BÔNG SEN VÀ THẬP GIÁ

User avatar
long
Posts: 299
Joined: Mon Aug 05, 2019 6:06 am

BÔNG SEN VÀ THẬP GIÁ

Postby long » Tue Sep 03, 2019 8:19 am

Sinh ra đời, ai chẳng ước mơ hạnh phúc ? Ông Trời đã đặt sẵn trong tâm hồn mỗi người ước vọng hạnh phúc. Ai sẽ chỉ cho ta con đường tốt nhất để đạt hạnh phúc ? Trên đường kiếm tìm hạnh phúc cho nhân loại, Ðức Phật và Ðức Giêsu đã vẽ ra những nẻo đường rất mới lạ. Những nẻo đường đó có thể tìm thấy nơi những biểu tượng Bông Sen và Thập Giá. Nhìn Bông Sen, người ta liên tưởng tới Ðức Phật nhập Niết Bàn. Nhìn Cây Thập Tự, ta nghĩ tới giờ cao điểm Ðức Giêsu hoàn thành công cuộc cứu thế. Ngày tết, nhìn lên Bông Sen và Thập Giá, con người như trở về nguồn và tìm thấy con đường dẫn tới hạnh phúc cho chính bản thân và gia đình.

Cả Bông Sen và Thập Giá đều là những biểu tượng và dấu chỉ cho biết con người phải vượt lên chình mình và trả giá mới thấy rõ bộ mặt thật của hạnh phúc. Biết bao kẻ thù đang rình rập phá hoại hạnh phúc con người. Ðức Phật và Ðức Giêsu đều xuất hiện để tìm cách vạch mặt chỉ tên những kẻ phá hoại hạnh phúc con người.





NHẬN DIỆN KẺ PHÁ HOẠI HẠNH PHÚC



Ðau khổ là một thực tế không ai có thể chối cãi. Ðức Phật đòi chúng sinh phải nhìn nhận sự thật đó, nếu muốn được giải thoát. Ðức Phật cho biết vì không thông hiểu Tứ Diệu Ðế (Bốn Sự Thật Cao Quý), nên con người phải trải qua nhiều kiếp luân hồi trong vòng sinh tử. Tứ Diệu Ðế là : Khổ Ðế (Sự Thật về Khổ), Tập Ðế (Nguồn Gốc của Khổ), Diệt Ðế (Ðoạn Diệt Khổ) và Ðạo Ðế (Con Ðường Diệt Khổ).[1] Con đường thoát khổ chủ yếu nằm trong chánh kiến hay nhận thức chân chính. Vô minh là nguyên nhân chính gây ra đau khổ. Quả thực, “việc chấm dứt các lậu hoặc (àsava) chỉ có thể xảy ra nơi những người thấy và biết như thế.”[2]

Kinh Thánh cũng mạc khải mọi đau khổ trần gian bắt nguồn từ sự vô minh dầy đặc trong lòng ông bà nguyên tổ. Vì muốn thoát cảnh vô minh và trở nên tinh khôn như các thần, ông bà đã ăn trái cấm.[3] Sự vô minh ấy đã gây một hậu quả vô cùng khốc liệt, đến nỗi tất cả nhân loại đã bị xiềng xích trong vòng nô lệ và phải chết. Ðể phá tan vô minh và tăm tối trần gian, Ðức Giêsu đến như “ánh sáng chiếu soi trong bóng tối.”[4] Người “đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật”[5] bằng cái chết trên thập giá. Nhờ đó, mọi người mới nhận biết Người là “sự thật sẽ giải phóng các ông.”[6] Thập giá đã trở thành biểu tượng sự giải thoát. Còn ai đau khổ bằng Chúa chịu đóng đinh trên thập giá ? Nhưng đó lại là con đường giải thoát khỏi đau khổ. Trong khi Ðức Phật tìm con đường giải thoát ở ngoài đau khổ, Ðức Giêsu lại lấy chính khổ hình thập giá làm con đường cứu rỗi.

Bình thường, nhìn lên thập giá, không ai có thể thấy con đường giải thoát. Thập giá thường được coi là biểu tượng đau khổ. Thực tế, không bao giờ đau khổ lại có thể trở thành mục tiêu hay giấc mơ của Ðức Giêsu. Người không bao giờ khuyến khích hay cổ võ đau khổ. Trái lại, Người đã đi khắp nơi để cứu con người khỏi bệnh tật, mù lòa, câm điếc, đói khát, quỷ ám, chết chóc v.v.,

Theo Ðức Phật, tất cả loài người đều đang trầm luân trong bể khổ. Người đặt tin tưởng hoàn toàn vào khả năng trí huệ, một khả năng có thể vạch trần nguyên nhân sinh đau khổ và tìm một con đường tự giải thoát. Ðức Phật không có ý nói càng trí thức, càng ít đau khổ. Trái lại, Người còn tìm cách giải thoát khỏi tri thức. Thực tế, chỉ vì khả năng tri thức, con người là con vật đau khổ nhất trần gian. Theo Ðức Phật, chỉ có con đường trí huệ, tức là nhận thức chân chính, mới giúp con người giải thoát khỏi bể khổ.

Ðức Giêsu cũng tin tưởng vào khả năng con người trên con đường giải thoát. Nhiều lần Người đề cao sức mạnh đức tin nơi con người. Người kêu gọi họ vận dụng tất cả khả năng để vác thập giá theo Người. Nhưng đồng thời, Người cũng khẳng quyết cả đức tin và khả năng đó đều là ân sủng của Thiên Chúa.[7] Con người không thể tự giải thoát hoàn toàn, “vì không có Thày, anh em chẳng làm gì được.”[8] “Ơn cứu độ, tự do, công lý và hạnh phúc đến tự niềm tin vào những lời hứa của Thiên Chúa và từ niềm hy vọng chúng ta đặt nơi lòng thương xót và ân sủng, hơn là từ những công nghiệp chúng ta đạt được do sức riêng.”[9]

Ðó là điểm khác biệt giữa Ðức Phật và Ðức Giêsu. Những khác biệt đó không thể trở thành đối kháng, vì nó nằm sâu trong niềm tin. Sự tương kính không vì thế mà bị suy giảm, nhưng càng trổi bật. Không phải vì khác biệt, hai vị không gặp gỡ nhau trên con đường phục vụ nhân loại.

Những đau khổ trên trần gian thuộc đủ loại. Có những thứ đau khổ do đồng loại, ví dụ những người ưu phiền, đói khát, bị bách hại, loại bỏ, ăn hiếp, nhất là nghèo đói. Khi đụng đầu với những vấn đề nghiêm trọng và nan giải đó, Ðức Phật vẫn tìm được con đường giải thoát chúng sinh khỏi duyên sinh. Con đường tìm thấy ngay trong lòng người. Ðó là Tứ Diệu Ðế và Bát Chánh Ðạo.

Có những đau khổ hoàn toàn không lệ thuộc con người. Những thiên tai chẳng hạn. Cả cái chết cũng có thể coi như một hiện tượng thiên nhiên. Ðứng trước đau khổ, Ðức Giêsu kêu gọi mọi người tỉnh thức. Nhưng Người cũng muốn họ thấy sức mạnh trổi bật nằm ngay trong niềm tin. Chỉ trong niềm tin của con người, Thiên Chúa mới ra tay hành động. Một khi Thiên Chúa đã ra tay, còn mãnh lực nào có thể hơn Người ? Ðây cũng lại là vấn đề không gặp đối kháng nơi những giáo huấn của Ðức Phật. Chúa và Phật đề cập cùng một vấn đề, nhưng phương cách nằm trên hai bình diện khác nhau.

Cả hai vị đều không muốn môn đệ quên lãng hay chối bỏ thực tại đau khổ trong cuộc sống. Các ngài đều muốn giúp mọi người thoát khỏi cảnh trầm luân. Con đường giải thoát nằm ngay trong chính lòng người. Một bên cho đó là trí huệ. Một bên gọi là đức tin. Nhưng trước tiên, muốn được giải thoát, con người cần phải đạt tới tình trạng vô ngã hay từ bỏ chính mình. Thoát ra ngoài vòng ái ngã, nguyên nhân chính của khổ đau, con người mới có thể sống hạnh phúc. Cũng như vạn vật, cái ngã chỉ do duyên hợp và sẽ biến hoại.

Nói tóm, “việc hủy mình ra không cho thấy một điểm gặp gỡ căn bản cả trong Kitô giáo (Lc 1:38) lẫn Phật giáo (arhant; bodhisattva). Cao điểm của kinh nghiệm huyền bí, phát sinh từ sự an tịnh trong Phật giáo và trong giáo huấn của thần học Kitô giáo, đều nổi cộm như một vấn đề đầy thách đố cho công cuộc đối thoại.”[10] Ðức Phật đáng được tôn kính vì đã có một chiêm niệm thần linh đầy sức mạnh cứu thoát chúng sinh.[11] Trong tình trạng tịnh diệt hư không, Ðức Phật đã tìm được con đường nhập Niết Bàn cho chính mình và nhân loại. Khi chịu treo trên thập giá, Ðức Giêsu đã kéo toàn thể nhân loại lên vinh quang Thiên Chúa.





CON ÐƯỜNG TÌM HẠNH PHÚC



Sau khi sinh ra nơi bể khổ đầy bóng tối này, cả Ðức Phật và Ðức Giêsu đều muốn tìm một giải pháp tích cực cho hạnh phúc con người. Giải pháp đó là Bát Chánh Ðạo và Bát Phúc.

Bát Chánh Ðạo mở ra con đường tám hướng giải thoát : chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Quan trọng nhất và dẫn đầu là chánh kiến. Quá trình giác ngộ tối thượng bắt đầu với chánh tri kiến và chấm dứt với giải thoát tri kiến. Giải thoát tri kiến cũng đồng nghĩa với sự giác ngộ hoàn toàn. Nhờ nhận thức giác ngộ ba bản chất hay đặc tính của đời sống, tức vô thường, khổ và vô ngã,[12] con người có thể giảm thiểu thái độ ngã mạn, từ bỏ thái độ chấp thủ : “cái này là của tôi,” “cái này là tôi,” “cái này là bản ngã của tôi.”[13] Vì, theo Ðức Phật, không thể có một thực thể thường hằng và không thay đổi, kể cả cái ngã. Diệt ngã là nẻo đường đi đến Niết Bàn.

Tóm lại, “sự giác ngộ trong Phật giáo không phải là một cái gì huyền bí hay siêu nhiêu. Nó chỉ là sự chuyển hóa toàn diện về tri thức, tình cảm, thái độ và cách cư xử. Giác ngộ do đó có thể đạt được hay chứng nghiệm ngay trong đời sống này khi các nỗ lực chân chánh của cá nhân được đầu tư hay thực hiện đúng mức.”[14] Một nỗ lực lớn lao như thế có thể giúp con người đạt tới sự giải thoát và hạnh phúc mà chẳng cần đến một trợ giúp nào, như Kitô giáo.

Từ đó, con người sẽ hạnh phúc và làm cho người khác hạnh phúc ngay trong đời sống hiện tại. Sẽ không còn cảnh tham lam, keo kiệt, lo âu, sợ hãi, ích kỷ, hận thù, lười biếng, phá hoại, khủng bố v.v. Trong Bát Chánh Ðạo chữ “chánh” hay “chính” được lặp lại liên tục, mục đích “chỉnh” con người nên ngay chính hơn. Nhờ đó, cuộc sống chỉ còn là an tịnh, trong sạch, vị tha, vô ngã, vô úy, độ lượng, khoan dung, hạnh phúc v.v.

Những điều tốt đẹp ấy sẽ được thực hiện thế nào trong Bát Phúc của Ðức Giêsu ? Bát Phúc nhằm công chính hóa con người. Bát Phúc là bản tóm lược Tin Mừng. Dĩ nhiên, công chính của Bát Phúc không giới hạn trong phạm vi luân lý, nhưng nhằm giúp con người nên trọn lành như Thiên Chúa là Cha trên trời. Nếu chỉ giới hạn Bát Phúc trong phạm vi tự nhiên, người ta sẽ không thể hiểu được những đòi hỏi quá gắt gao như vậy. Nói khác, Bát Phúc thuộc phạm vi siêu nhiên.

Phúc thứ tư và tám đều hướng về sự công chính. Từ trong tâm hồn đến ngoài thực tế, nếu lấy sự công chính làm lẽ sống, con người sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi những điều gian tà. Hơn nữa, phải khao khát Thiên Chúa một cách mãnh liệt, người ta mới có thể chịu đựng nổi những cơn bách hại khủng khiếp của bọn người độc ác. Khác với Phật tử, Kitô hữu phải quy hướng tất cả về Thiên Chúa. Nếu không có ân sủng và tình yêu Thiên Chúa, con người không thể trở nên công chính và tham dự đại tiệc trong Nước Thiên Chúa.

Niềm vui đó chỉ có trong những tâm hồn trong sạch, quảng đại và khoan dung. Sống trong mối tương quan với đồng loại, con người phải chọn một thái độ. Thái độ đó phản ánh mối tương quan sâu xa với Thiên Chúa. Sở dĩ có thể có lòng từ bi đối với tha nhân, vì Kitô hữu biết chính mình đã được Thiên Chúa xót thương quá nhiều. Lòng từ bi đối với tha nhân chẳng qua chỉ là cách đáp đền phần nào tấm lòng quảng đại của Thiên Chúa. Sở dĩ mối tương giao chiều ngang với tha nhân hài hòa , vì Thiên Chúa nâng con người lên hàng thân hữu với Chúa. Càng sống mật thiết với Chúa, càng dễ hòa hợp với anh em. Càng sống hài hòa với anh em, càng dễ nhận ra Thiên Chúa là Cha đầy lòng yêu thương và trở nên nghĩa thiết với Người.

Tất cả các mối phúc này cũng như các mối phúc khác đều bắt nguồn từ mối phúc đầu tiên, đó là “phúc cho ai có có tâm hồn nghèo khó.”[15] Có nghèo khó, mới thấy mình cần đến và lệ thuộc vào Thiên Chúa. Con người hay của cải vật chất không còn là điểm tựa hay mối hy vọng cho người nghèo nữa. Họ thoát xa những ma lực trần thế và bám víu một mình Thiên Chúa mà thôi. Nhờ đó, họ trở nên công chính như Thiên Chúa. Người nghèo mơ ước thời đại Thiên Sai chóng tới để được Thiên Chúa cứu vớt.

Trong thực tế, người nghèo vẫn chịu trăm bề đau khổ . Họ cần nhẫn nhục mới qua cơn thử thách. Ðó là điểm nhấn trong mối phúc thứ hai : “Phúc cho ai hiền lành.”[16] Mối phúc này đồng nghĩa với mối phúc thứ nhất. Ðó là nhân đức quan trọng có tính cách quyết định sự thành công trong cuộc đời. Quan trọng đến nỗi Ðức Giêsu đã coi như một gia bảo trối lại cho các môn đệ. Ðộng lực giúp họ có thể kiên tâm chịu đựng không nằm trong những hứa hẹn trần gian, nhưng là “đất hứa,” một biểu tượng niềm hy vọng thiên sai. Cuộc đời có thể đem lại những đắng cay, sầu muộn, nhất là khi bị những người giàu có và thế lực đàn áp. Lúc đó, họ chỉ còn biết tìm đến Thiên Chúa là nguồn an ủi duy nhất. Cuối cùng Thiên Chúa sẽ cứu xét hoàn cảnh của họ và mau chóng đẩy mạnh vương quốc thiên sai tới giai đoạn chót để thỏa mãn mọi khát vọng của họ.

Giữa bể khổ trần gian, Bát Phúc vẫn là những điều thực tế và có thực, mặc dù là luôn thách đố và đi ngược với những quan niệm thường tình về hạnh phúc. Bát Phúc gieo niềm hy vọng lạ lùng, mới mẻ và mạnh mẽ. Bát phúc có khả năng vượt qua những thử thách lớn lao nhất, đến nỗi vì Chúa, chúng ta có thể tìm thấy niềm vui và thanh thoát giữa những đau khổ cùng cực. Thánh Phaolô đã dùng cả cuộc đời để mạnh mẽ làm chứng : “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðức Kitô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ? [...] Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Ðấng đã yêu mến chúng ta.”[17] Nói khác, nhờ quyền lực Thánh Linh, chúng ta có thể lướt thắng tất cả.[18]

Tóm lại, trên đường tìm hạnh phúc, Kitô hữu luôn phải nhớ tới chiều dọc lên tới Thiên Chúa. Kitô hữu sống trong tương quan ba chiều giữa bản thân – Thiên Chúa – tha nhân. Tất cả tương quan chiều ngang đều phản ánh tương quan chiều dọc. Con đường dẫn tới hạnh phúc vừa siêu nhiên vừa thực tế. Dầu sao, đó là vấn đề hoàn toàn thuộc về niềm tin Kitô giáo. Trong khi đó, nhờ Bát Chánh Ðạo, Phật tử chỉ cần biết đến tương quan chiều ngang giữa mình và tha nhân. Phật tử chủ động và tự lập trong việc giải quyết các vấn đề trong tương quan đó.



KẾT LUẬN



Nhìn bên ngoài, Phật tử và Kitô hữu đều phải cố gắng như nhau trên đường tìm hạnh phúc. Có nhiều điểm giống nhau trong tâm hồn và những nỗ lực bên ngoài. Tất cả đều diễn ra trong cuộc sống hiện tại. Niềm tin siêu nhiên không làm tất cả thay cho Kitô hữu. Cũng không phải vì Bát Chánh Ðạo là một chuyển hóa tự nhiên, Phật tử không cần một cố gắng nào hay cứ đợi thiên nhiên làm việc. Không thể ở thế thụ động hay tiêu cực mà tìm được hạnh phúc. Hạnh phúc không phải là thứ rớt từ trên trời xuống. Không thể nằm gốc cây chờ sung rụng !

Công đồng Vatican II nhìn nhận có những giá trị cứu độ trong Phật giáo.[19] “Cuộc gặp gỡ trong lịch sử cho thấy cả Phật Giáo và Kitô Giáo đều quyết tâm xây dựng hòa bình và công lý trên thế giới, đều có kinh nghiệm thần bí, truyền thống chiêm niệm và những trao đổi về đời sống đan tu. Cuộc đối thoại về đạo lý đánh giá hành trình cứu độ có một chiều sâu hiện sinh trong Phật Giáo. Ðức Phật và Ðức Kitô đều là những vị gương mẫu, vì cả hai là những vị sáng lập các phong trào cách mạng trong bối cảnh các tôn giáo truyền thống. Trong khi Ðức Kitô rao giảng ơn cứu độ như một ân huệ Chúa Cha ban nơi vương quốc Thiên Chúa bao trùm khắp vũ trụ, hình như Ðức Phật chỉ dạy cho nhân loại cách giải thoát bằng sức mạnh riêng. Cho dù chủ trương vô ngã, sự cứu độ trong Phật giáo cũng bị ảnh hưởng bởi việc chối bỏ cái tôi một cách triệt để.”[20]

Dù là Phật tử hay Kitô hữu, chúng ta cương quyết bước theo Ðức Phật hay Ðức Giêsu để tự giải thoát khỏi tham sân si. Thật vậy, dưới cái nhìn của Công đồng Vatican II, “Phật giáo, theo nhiều tông phái khác nhau, lại nhìn nhận sự thiếu sót căn bản của cuộc đời thay đổi này và vạch ra con đường cho những người thành tâm tin cậy, hoặc đạt đến chỗ giải thoát toàn vẹn hay giác ngộ hoàn toàn, bằng những cố gắng riêng mình hoặc bằng trợ lực của ơn trên,”[21] để đạt tới cứu cánh cuộc đời. Ngay từ bây giờ, nếu chúng ta bắt đầu nghe theo tiếng gọi của các ngài, Bát Chánh Ðạo hay Bát Phúc sẽ là những con đường giải thoát và dẫn đưa gia đình cũng như dân tộc chúng ta tới bến bờ hạnh phúc.

Hạnh phúc thực sự không lộ diện qua những đường nét quyến rũ mùa xuân. Hạnh phúc không có mặt nơi những canh bạc thâu đêm hay những điệu nhảy quay cuồng điên loạn. Trong những ngày vui đầu năm, nếu có giây phút nào dừng lại suy nghĩ, mới thấy hạnh phúc có một chiều sâu và bề dầy rất lớn. Dù là Phật tử hay Kitô hữu, chúng ta cũng phải trả giá cho hạnh phúc của chính mình. Theo Phật hay Chúa, con người đều mong tìm thấy hạnh phúc. Nhưng mỗi vị dẫn theo một đường. Có thể tìm thấy nhiều điểm giống nhau. Nhưng cũng có những dị biệt. Tùy niềm tin và ý chí, con người có thể có những lựa chọn riêng cho mình. Mỗi một lựa chọn đều hàm ẩn và dẫn tới một hướng giải thoát cho cuộc đời hạnh phúc. Phải vượt lên trên những thử thách và đau khổ hôm nay, mới có thể thấy dung nhan Hạnh Phúc đang ẩn dấu giữa những thách đố bất tận đó. Hạnh Phúc đó là chính Thiên Chúa.

----------------------------------------------
http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/ ... hapGia.htm

User avatar
long
Posts: 299
Joined: Mon Aug 05, 2019 6:06 am

MỘT CÁI NHÌN ĐỐI CHIẾU KITÔ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO

Postby long » Tue Sep 03, 2019 8:21 am

Thần học gia Công giáo nổi tiếng người Đức, Romano Guardini (1885-1968), đã viết một bài suy niệm sâu sắc và đúng giáo lý về đời sống của Đức Kytô, nhan đề đơn giản ‘Đức Chúa’.

Trong bài viết, ông đã nêu lên sự kiên là trong lịch sử loài người, chưa hề có một ai hon đức Phật đã được coi như là người có thể ngang hàng đối tác với Đức Giêsu khi Đức Giêsu nói một lời quả quyết kinh ngạc là khi ngài đến trong trần gian, chính là để biến đổi toàn diện bản chất con người, biến đổi ngay đến tận gốc tận rễ, mặc dầu cả đức Phật cả Đức Giêsu làm công việc biến đổi đó mỗi người một cách khác nhau.

Trong tác phẩm ‘Các tôn giáo của loài người’, Huston Smith nói là trong lịch sử chỉ có hai nhân vật mà câu hỏi chính xác không phải ‘Ông là ai?’ mà là ‘Ông là người trần hay là thần linh?’ Hai nhân vật đó chính là Đức Giêsu và Đức Phật.

Câu trả lời của Đức Phật thật rõ ràng ‘Tôi là người, không phải là thần linh’. Câu trả lời của Đức Giêsu cũng thật rõ ràng ‘Tôi vừa là Con Người vừa là Con Thiên Chúa’.

Đức Phật nói: ‘Đừng nhìn tôi, hãy nhìn đạo lý của tôi’; Đức Kytô nói: ‘Hãy đến với tôi’; đức Phật nói: ‘Hãy trở nên những ngọn đèn cho chính mình’; Đức Kytô nói: ‘Tôi là ánh sáng của trần gian’.

Thế nhưng về sau, đi ngược lại với nguồn gốc những điều tâm niệm sâu sắc của hai ngài, thì các nhóm môn đệ hậu duệ buổi đầu của đức Phật (giáo phái Tịnh Độ) (1) coi đức Phật là thần linh, còn các môn phái Đức Kytô, như môn phái lạc giáo Ariens và cải cách Modernistes, lại từ khước tư cách Thiên Chúa của Đức Kytô.

Do vậy mà những lời quả quyết tuyên bố của Đức Phật và của Đức Kytô thật hết sức khác nhau, đến nỗi chúng ta phải tự hỏi Phật giáo có đúng là một ‘tôn giáo’ hay không.

Phật giáo không hề nói đến Thiên Chúa hoặc Bà la môn, trong lúc đó thì Ấn độ giáo (sinh ra Phật giáo) có nói đến.

Phật giáo cũng không hề nói đến Atman, hoặc linh hồn. Chỉ dạy lý thuyết về ‘an-atta’, "vô ngã" (2)--- mỗi con người ta đều là thành quả của "ngũ uẫn" (3) (skandhas) được thành hình chỉ bởi một sự tất yếu nhân quả mà thôi… chớ không dựa trên một nội dung căn bản nào, "mình" hay "linh hồn"

Phật giáo không chối bỏ Thiên Chúa. Phật giáo im lặng về Thiên Chúa. Phật giáo tuyên xưng thuyết bất khả tri (4); không phải là vô thần. Nhưng Phật giáo không im lặng về vấn đề linh hồn. Sự phủ nhận linh hồn của Phật giáo có tính cách thực tiễn: Phât giáo dạy ta đừng nên quyến luyến với ao ước mộng mị, đừng vất tâm hồn vào thế giới ham muốn, đừng nên yêu đương. Thay vì dạy ta một tình thương riêng tư, cá nhân, tự nguyện: "agape" (tình thương hoạt động) Phật giáo dạy ta hỷ xả từ bi vô ngã, đại đồng gọi là ‘karuna’. Ở Tây phương tân tiến, ta thường nghe nói về tình nhân ái ‘agapè’ nhiều hơn là về "hỷ xả" bởi vì như Dostoyevsky nói, ‘tình thương thực hiện trong thực tế là một chuyện rất công lao, khủng khiếp khi đối chiếu nó với tình thương trong ước mơ’.

Karuna và Agapè mời gọi người môn đệ thực hiện những tác động của cùng một lòng xả thân quên mình, nhưng với hai tinh thần hoàn toàn khác biệt nhau. Cả hai điều này được minh họa qua câu chuyện về một vị chân tu Phật giáo giống như vị chân tu Kitô giáo là thánh Martin thành Tours, trao cho một người hành khất vô danh áo choàng của mình. Nhưng người môn đệ Phật giáo cắt nghỉa hành động nầy, không phải là "vì tôi yêu ông" hay là "vì Thiên Chúa yêu ông", nhưng "vì đây đúng là điều quang minh nhất phải làm. Tại vì nếu anh đang bị lạnh cóng tay, mà môt tay đang mang hai găng tay, còn tay kia thì không có găng nào, đều rỏ ràng nhất phải làm, phải chăng là đưa cho tay trơ trụi kia môt cái găng?"

Luận chứng của Phật giáo không phải ở chỗ thoải mái của kẻ đã nhận, mà chính là ở chỗ người đã cho, tự thoát thân giải phóng khỏi sức nặng của cái ‘tôi’ chật hẹp. Cùng một kết quả đó cũng có thể đạt được mà không cần có người nhận. Chẳng hạn như một người đang thoát chạy trước một con cọp ăn thịt người, đang đứng trước bờ vực thẳm: lối thoát duy nhất của ông là lao mình xuống vực. Thế nhưng người đó thấy có cây nho, ông trèo lên cây nho để xuống vực. Khổ nỗi ở dưới vực lại có con cọp ăn thịt người thứ hai, rồi lại có hai con chuột: một con đen, một con trắng (âm dương) đang gặm ngon lành cây nho trên đầu ông ta. Đúng lúc cây nho sắp gãy, ông lại thấy một trái dâu dại trên mặt bờ vực thẳm. Ông hái dâu rồi ăn ngon lành. Thật ngọt ngào quá sức!

Người ‘chưa giác ngộ’ (chưa vào cõi niết bàn - nirvana) sẽ tự hỏi đâu là điểm cốt lõi hoặc tại sao người đó không đánh lạc hướng con cọp ăn thịt người với quả dâu trong tay. Còn người ‘đã giác ngộ’ thì sẽ lý giải câu chuyện ngụ ngôn đó như sau: ‘đối với con cọp, người đó là miếng mồi ngon của mình, hệt như quả dâu cũng là miếng mồi ngon của người đó’. Nói cách khác, cả ba, cả người cả cọp cả dâu, tất cả đều là một cái ‘mình’ vô ngã vô thường, có thể thấy trong đó bằng chứng hư ảo về cá tính cá nhân của mình. Không có linh hồn (5), vì vậy cũng không có sợ hãi, không sợ hãi chết chóc là vì không có ai để chết.

Với Phật giáo, ích kỷ (ưa chuộng cái ‘tôi’) khích động ảo ảnh của chính cái ‘tôi’. Với người Tây phương, người vô đạo sống theo thế tục hay kẻ sùng đạo, chính cái ‘tôi’ là nguyên do, và chủ nghĩa tôn thờ cá nhân là hậu quả. L’agapè là kết quả khác nhau của cùng một nguyên nhân: lòng vị tha, thay vì lòng vị kỉ, cũng là kết quả của cái ‘tôi’. Cho nên đối với người Phật giáo, agapè không có thể có được, là vì không thể nào có cái ‘tôi’ mà lại không có ích kỉ, không có cái ‘tôi’ mà không có cái “mình” bởi vì cái “tôi” không thể nào được xem như môt nguyên nhân có thể thay đổi cái kết quả; cái “tôi” đó chỉ là kết quả ảo tưởng của cái “mình”, cuối cùng chẳng có ai để mà thương hay để mà ghét cả.

Vậy làm sao mà một thứ chủ nghĩa đề cao hư vô hóa như thế, một thứ triết lý ‘trống rỗng hư vô’ như thế lại dược người phật tử coi là có giá trị giải phóng con người? Câu trả lời thấy ngay trong chính con người đức Phật: nhân cách và những biến cố trong cuộc đời ngài, đặc biệt lúc ngài ‘giác ngộ".

Cũng như Đức Giêsu, Đức Phật đã để lại cho hậu thế một thông điệp rất khiêu khích. Và cũng như Đức Giêsu, nhân loại đã tin ở đức Phật nhờ chính bản thân phi thường của ngài. Người ta miêu tả Đức Phật như ‘một vị thánh hiền đến mức tột bực’. Bạn hoặc tôi nếu nói lên những điều như Đức Giêsu và Đức Phật đã nói, thì người ta sẽ cười chế giễu ngay vào mặt. Có cái gì sâu thẳm và xúc động đã khiến cho một điều khó tin, lại trở thành đáng tin.

Những biến cố trong cuộc đời của Đức Phật có tính bi đát của đời trần ai mà đồng thời cũng là dấu hiệu loan báo sự hiện diện của một ‘cái gì đó’. Thế nhưng không phải chính cuộc đời của đức Phật hay bản thân ngài làm cho có Phật giáo, vì có thể có Phật giáo mà không có đức Phật, ngược lại không thể có Kytô giáo mà không có con người Đức Kytô.

‘Phật’ là danh hiệu, không phải tên riêng, cũng như ‘Kytô’. ("Messie") ‘Buddha’ là danh hiệu Đức Phật dành cho mình, vì ‘Phật’ có nghĩa là ‘người giác ngộ’, người đã tỉnh thức. Đức Phật quả quyêt tất cả chúng ta, trên phuong diện linh thiêng, trước khi đạt được đến kinh nghiệm thức dậy, tỉnh táo, đều là những người ngái ngủ. Sau đây là lịch sử cho thấy làm thế nào Phật đã trở thành Đức Phật, thế nào là một con người đã giác ngộ.

Vua cha của thái tử Samôn Gautama muốn con mình là một ông vua tài đức nhất lịch sử Ấn độ. Ngài để con ở trong cung, gìn giữ, che chở bao bọc con với tất cả những gì là quý báu ngon ngọt nhất của trần gian để con ham muốn làm vua. Thế nhưng thái tử, bất chấp lệnh vua cha, tò mò, ưa thích trốn ra khỏi cung điện. Có lần thái tử thấy 4 cảnh thương tâm đau lòng: ba cảnh đầu là một người bệnh tật, một người già và một người chết. Gautama tìm kiếm sâu xa để hiểu cho kỳ được căn nguyên của ba điều vừa khám phá: bệnh, lão, tử. Luống công vô ích. Đến lần thứ tư cuối cùng là cảnh tượng một người hành khất khổ hạnh bỏ cuộc đời đi tìm kiếm giác ngộ. Gautama quyết định làm theo như vậy.

Sau bao nhiêu năm trời ròng rả suy tư về cái mầu nhiệm thẳm sâu của đời người: tại sao con người khổ? Sau bao năm trời hành hạ thân xác trong niềm hy vọng giải thoát tâm linh mà không hề được toại nguyện, ngài thái tử bèn nhất quyết dấn thân đi vào con ‘đường trung dung’ giữa những năm đầu vừa qua sống trong sung túc tự mãn và cuộc đời khổ hạnh phạt xác trong những năm tháng sống nghiệt ngã sau này. Sau một bữa ăn đàng hoàng, lần đầu tiên từ mấy năm nay, ngài ngồi thiền trong tư thế hoa sen, dưới gốc cây thánh thiêng Bồ đề ở Bénarès, rồi tự bảo sẽ ngồi thiền như vậy nhất định không đứng lên cho đến khi được giác ngộ. Cuối cùng khi ngài đứng thẳng lên, tự xưng là Phật: thế là ngài đã thấu suốt bí nhiệm của cuộc đời.

Những khám phá phải được trải nghiệm qua thực tế, chứ không phải qua lời lẽ lý thuyết.

Phật giáo cốt thiết là một cảm nghiệm bản thân, không phải là một học thuyết. Thế nhưng, ngài Bu đa cũng đã dùng văn tự mà nói lên môt ‘pháp giới’ (dharna): 4 mệnh đề về Tứ Diệu đế đúc kết tất cả giáo lý của ngài. (6)

Dầu vậy mỗi lần có người môn đệ muốn đi xa hơn Tứ Diệu đế đó, ngài từ chối mà nói: ‘ngoài ra, những gì khác đều không đưa tới chân tâm chân thức’.

Diệu đế thứ nhất dạy cuộc đời này sinh ra là dukkha, ‘khổ’; tiếng phạn ‘duḥkha’ theo nghĩa đen là có ‘điều gì trục trặc, hoặc là điều gì ‘vỡ lỡ’, điều gì giống như là ‘tội lỗi’ nhưng không mang tính cách tương giao cá nhân: không phải một sự rạn nứt của một mối tương giao nhưng là của một nhận thức. Trong Phật giáo, đổ vỡ nội tâm là một ‘tin không lành’, đi trước ‘tin mừng’ ‘tin lành’,.

Điều này cắt nghĩa Phật giáo là chủ nghĩa ‘vô hồn’ Ham muốn tạo ra ảo tưởng một nhân vật riêng rẻ với một sự vật mà mình ham muốn đứng đối diện mình, một ảo tưởng như ‘ta là một, mà cũng là hai’. Chính giác ngộ làm cho ‘tắt lửa’ cái ảo tưởng này. ‘Tôi muốn cái đó’ tạo ra ảo tưởng có cái ‘tôi’ riêng biệt với ‘cái đó’. Sự cách biệt đó là nguyên nhân của khổ. Như thế, ham muốn tham lam khêu lên ngọn lửa đau khổ.

Diệu đế thứ ba dĩ nhiên là hậu quả trực tiếp theo sau. Bỏ đi nguyên nhân tức là bỏ đi hậu quả. Như thế, khổ đau có thể diệt được nhờ giác ngộ (nỉrvana) nếu diệt được lòng tham lam. Lấy xăng dầu đi tất là tắt lửa được.

Diệu đế thứ bốn dạy làm thế nào diệt được ham muốn bằng cách theo Bát Chính Đạo, để dẹp bớt cái ‘tôi’ trong tám lãnh vực của cuộc sống hướng ngoại hướng nội của con người. (ví dụ: suy nghỉ chơn chính (7); kết hợp tư tưởng đạo lý, v.v…)

Nội dung của Diệu đế thứ bốn là đặc điểm của Phật giáo, nhưng tinh thần cốt cách lại là phổ cập cho hoàn cầu. Mỗi tôn giáo, mỗi học thuyết triết lý, mỗi loại điều trị tâm linh hay thể xác, thảy đều phải bao gồm Tứ Diệu đế: trước hết là tìm cho ra các triệu chứng bệnh, sau đó là chẩn bệnh, rồi cho toa thuốc đúng với cơn bệnh và cuối cùng là điều trị bệnh. Theo thứ tự, đó là kết quả xấu, nguyên nhân xấu, kết quả tốt, nguyên nhân tốt.

Ví như Bốn chân lý cơ bản của chủ nghĩa Mát-xít là: đấu tranh giai cấp, Tư bản chủ nghĩa, Cộng sản chủ nghĩa, cuối cùng Cách mạng. Của Kytô giáo là: chết, tội lỗi, Đức Kytô, ơn cứu rỗi.

Giai đoạn quan trọng nhất trong Tứ Diệu đế là giai đoạn thứ hai: bệnh nhân có thể biết các triệu chứng bệnh của mình, nhưng chỉ có bác sĩ kinh nghiệm mới chẩn đoán ra nguyên nhân kín đáo của cơn bệnh. Một khi được chẩn đoán đúng đắn, hầu hết các bệnh đều có thuốc chữa tri và có thể được tham khảo trong một cuốn sách y khoa.

Về điểm quan trọng này - túc là vấn đề chẩn đoán con người ta - thì Kytô giáo và Phật giáo thật hết sức khác nhau. Bởi vì Đức Phật thì nhận chân rằng lòng ham muốn nơi con người ta là quá mạnh; còn đức Kytô lại thấy chúng quá yếu: ngài muốn yêu thương nhiều hơn nữa, mạnh hơn nữa: yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực của mình. Đức Phật giải quyết vấn đề khổ bằng một thứ chết thiêng liêng nhẹ nhàng không đau đớn: chữa cơn bệnh của lòng ích kỷ và tránh sự khổ từ đó mà ra bằng cách phải giết đi người bệnh, giết đi cái ‘tôi’ của người bệnh, cái vô ngã vô thường, cái "hồn", nơi người bệnh, giết đi cả cái tật coi mình là trung tâm thần thánh của vũ trụ.

Tuy vậy những đều vừa nói cũng không có gi mâu thuẫn cho lắm, bởi vì lòng con người ham muốn mà đức Phật nói, là một lòng ham muốn ích kỷ vị lợi, nó không phân biệt tình thương từ bi vị tha (agape) với tình thương ích kỷ (eros); nói đơn giản Đức Phật không hề cảm nghiệm gì về tình thương agapè cả. Đức Phật thông biết, và ngài lên án, sự ham muốn của con người về một cái gì đó thấp kém hơn mình, ví như tiền bạc, tình dục hay quyền lực, nhưng ngài không biết lòng ham muốn được có một cái gì cao cả hơn mình, lớn lao hơn mình. Đức Phật biết lòng tham lam, nhưng không biết Thiên Chúa. Và chắc chắn là người phương Tây chúng ta mà cuộc sống và các hệ thống kinh tế đều dựa trên sự tham lam của cải vật chất, thì ta phải biết đón nghe đức Phật khi ngài nói về những gì ngài biết và những gì ta lãng quên.

Tín đồ Phật giáo tuyệt đối cần nghe biết những gì họ chưa biết, đó là tin lành về Thiên Chúa và Tình yêu thương của Ngài.


Ignatius Press, Fundamentals of the Faith

NT. Trần Thị Quỳnh Giao, FMM (chuyển ngữ)

Nguồn: www.peterkreeft.com/topics-more/religions_buddhism.htm

------------------------------------------------------------------------------------------------------
http://nhipcautamgiao.net/sinh-hoat-lie ... phat-giao/

User avatar
long
Posts: 299
Joined: Mon Aug 05, 2019 6:06 am

Re: BÔNG SEN VÀ THẬP GIÁ

Postby long » Tue Oct 08, 2019 2:18 pm

Cái vui đau hơn hay cái đau vui hơn?!Con người có đau có vui :mrgreen:
https://www.youtube.com/watch?v=kFY44T_bUqY
Attachments
vn.png
vn.png (5.7 KiB) Viewed 257 times

User avatar
long
Posts: 299
Joined: Mon Aug 05, 2019 6:06 am

Re: BÔNG SEN VÀ THẬP GIÁ

Postby long » Thu Oct 31, 2019 3:34 am

ở trên có đại bàng(GIÊ-SU),ở dưới có con chó(PHẬT),con người sống hòa hợp với tự nhiên là vì vậy :idea:
Attachments
dogs-foot-silhouette-vector-8558184.jpg
dogs-foot-silhouette-vector-8558184.jpg (51.3 KiB) Viewed 119 times
EAGLES.jpg
EAGLES.jpg (18.49 KiB) Viewed 119 times


Return to “RELIGIOUS DIALOGUE AND PRAY/ĐỐI THOẠI GIỮA TÔN GIÁO VÀ CẦU NGUYỆN”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest