Đạo đức là cái gốc làm người, người vô đức xã hội ắt sẽ đại loạn

Moderator: sensible

User avatar
nho
Site Admin
Posts: 35
Joined: Thu Nov 15, 2018 6:48 am

Đạo đức là cái gốc làm người, người vô đức xã hội ắt sẽ đại loạn

Postby nho » Wed Nov 21, 2018 2:33 am

Văn hoá truyền thống Trung Quốc chú trọng vào việc nâng cao đạo đức của con người. Nhiều cổ thư cũng nhấn mạnh vào việc khuyên bảo người đọc tu tâm dưỡng tính, hành thiện để nhận được phúc báo và tránh gặp phải tai hoạ.

Trong sách viết về tu dưỡng đạo đức, Chu Vĩnh Xuân, một học giả triều nhà Minh, đã răn dạy rằng: “Khi đạo đức một người không tương xứng với địa vị của mình, bất hạnh tới sẽ là điều không tránh khỏi.“

Chu Vĩnh Xuân cho rằng nếu muốn có được những điều tốt đẹp trong cuộc sống thì phải tu dưỡng đạo đức trước. Ông chỉ ra rằng cuộc sống con người cũng giống như một ngôi nhà và đạo đức giống như là nền móng của nó, danh vọng, địa vị, quyền lực và sức khỏe đều được xây dựng dựa trên nền tảng ấy.

Việc xây một ngôi nhà mà không có nền móng vững chắc thì rất nguy hiểm, trước sau gì nó cũng đổ sập. Cuộc sống con người cũng vậy: nếu một người cố gắng để đạt được địa vị, quyền lực và sự giàu có mà không chú trọng vào một nền tảng đạo đức vững chắc thì tai hoạ ắt sẽ phải đến và rồi họ sẽ chẳng còn gì.

Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao một số ca sĩ hay diễn viên trở nên mất hút chỉ sau một giai đoạn nổi tiếng, hay một số người khi có được một số tiền lớn nhờ vé số rồi sau đó lại tán gia bại sản, hay là những chính trị gia họ bị hạ bệ rất nhanh sau khi được nâng lên để nắm giữ một quyền hạn nào đó.

Đây là tất cả những ví dụ về những người có đạo đức không tương xứng với vị trí của mình. Người ta thường quan tâm về sự lên xuống của những người này nhưng ít ai thực sự biết rõ tại sao những thứ trời cho này cuối cùng lại kết thúc trong bất hạnh.

Những gì được Chu Vĩnh Xuân viết quả là những đạo lý đúng đắn. Không có đạo đức cũng giống như việc chúng ta đi trên một vách núi cheo leo và nguy hiểm: trước sau gì cũng sẽ rớt xuống.

Kết cục bi thảm của những quan lại nắm trong tay nhiều quyền lực nhưng lại thiếu đạo đức trong lịch sử
Lịch sử Trung Quốc có nhiều ví dụ về các quan lại cao cấp nắm trong tay nhiều quyền lực nhưng lại bị kết cục thê thảm vì sự vô nhân đạo và lạm dụng quyền lực có trong tay.

Ví dụ như Lai Tuấn Thần, là một viên quan xử án trong thời đại nhà Đường, y đã từng được hoàng đế tin tưởng giao nhiệm vụ điều tra các quan lại trong cung.

Với quyền lực trong tay, Lai Tuấn Thần và người của y đã ngụy tạo nhiều chứng cứ để buộc tội nhiều quan lại. Y cũng là người đã tạo ra nhiều phương pháp tra tấn tàn khốc để ép cung. Với quyền lực trong tay và sự bạo hành của mình, y được xem là người đáng sợ nhất và bị ghét bỏ nhất thời bấy giờ.

Tuy nhiên, không lâu sau đó y đã nhận quả báo sau khi buộc tội con gái của hoàng đế không thành công. Cuối cùng, y đã bị xử tử vì tội phản bội, thi hài y bị lột da và bị xé thành từng mảnh.

Nghiêm Tung thời nhà Minh cũng giống như Lai Tuấn Thần. Sau khi được làm quan trong triều đình, Nghiêm Tung nhanh chóng hình thành phe cánh của mình. Bằng cách loại bỏ những người chống đối, Nghiêm Tung dần kiểm soát được việc triều chính, vị hoàng đế lúc bấy giờ thì chỉ tập trung vào việc tu Đạo.

Nghiêm Tung và con trai dùng quyền lực để kiếm tiền, giết hại rất nhiều người vô tội. Sau khi mất sự tin tưởng của hoàng đế, con trai của Nghiêm Tung thì bị xử trảm, còn ông ta thì bị tước bỏ mọi quyền lực và tài sản, sống lang bạt rồi chết không lâu sau đó.

Chúng ta cũng bắt gặp nhiều kết cục tương tự lặp đi lặp lại trong lịch sử. Thời đại và nhân vật có thể thay đổi nhưng cốt truyện vẫn không đổi.

Những trường hợp tương tự ở Trung Quốc hiện nay
Sau khi chính quyền Trung Quốc phát động cuộc đàn áp Pháp Luân Công (một môn tu luyện Phật gia thượng thừa nâng cao sức khỏe cho thể chất và tinh thần, giúp con người hướng thiện theo Chân – Thiện – Nhẫn), một số thành viên trong chính quyền này đã dốc sức thi hành chính sách đàn áp và tham gia vào cuộc bức hại. Họ thực hiện đủ mọi điều xấu: quấy rối, bắt giam, hành hung, tra tấn, buộc tội phi pháp và thậm chí đã giết rất nhiều người luyện tập vô tội.

Những thành viên cốt cán trong bộ máy chính quyền Trung Quốc như Chu Vĩnh Khang, Bạc Hi Lai, Lí Đông Sinh, Chu Bản Thuận chính là những người giữ vài trò chính trong việc duy trì cuộc bức hại này và là những tay sai đắc lực của Giang Trạch Dân, cựu lãnh đạo ĐCSTQ lúc bấy giờ.

Họ nhận tiền để làm nhiều điều vô nhân đạo, tạo ra nhiều lời dối trá và che dấu sự thật trong việc thực thi các chỉ thị của Giang. Họ được trao nhiều quyền lực trong tay nhưng lại không có đạo đức và nhân cách. Thực ra, họ nhanh chóng được thăng cấp chính là nhờ vào việc không ngừng đàn áp Pháp Luân Công, nhưng tất cả họ đều nhanh chóng nhận kết cục bi thảm.

Thiếu đạo đức sẽ mang đến hậu quả khôn lường
Một vài quan chức đã đối mặt với những kết cục bi thảm hơn nữa, không chỉ đơn giản là mất đi quyền lực. Lý Phú Quốc là giám đốc công an quận Tào Phi Điện ở thành phố Đường Sơn, được thăng chức làm giám đốc công an vào năm 2013 nhờ vào việc không ngừng bức hại học viên tu luyện Pháp Luân Công kể từ năm 2006.

Nhưng không tới 3 năm sau khi được nhận chức giám đốc, Lý Phú Quốc bị bệnh bạch cầu và chết trong vòng hai tháng sau đó, chỉ ở tuổi 47.

Lý Phú Quốc là lãnh đạo Đội an ninh trật tự quận từ năm 2006 đến năm 2013 và đã tham gia vào hầu hết các vụ liên quan tới học viên tu luyện Pháp Luân Công. Ngay khi được nhận chức phó giám đốc, ông ta bắt giam bà Lý Ai Ninh và cầm tù bà trong trại lao động cưỡng bức Thạch Gia Trang. Bà đã bị hành hung và ngược đãi nghiêm trọng trong trại lao động và đã qua đời khi được thả ra không tới hai tuần sau đó.

Để lừa một người tu luyện khác trong vùng, Lý Phú Quốc và đồng bọn giả vờ làm khách hàng ở cửa hàng ông Trịnh Hướng Tân vào năm 2012. Họ đã bắt giam ông và lục soát nhà ông ngay trong hôm đó. Ông Trịnh đã bị kết án tù 10 năm tù vì đức tin của ông và đã bị ngược đãi nghiêm trọng trong tù.

Ông Trịnh đã bị gãy xương sườn và bị đánh vào đầu đến bất tỉnh. Kết quả là ông bị mù cả hai mắt và tinh thần ông không còn minh mẫn. Ông không còn suy nghĩ tỉnh táo như trước và cũng không còn khả năng tự đi vệ sinh cho bản thân.

Lý Phú Quốc đã gây biết bao nhiêu đau khổ cho nhiều người tu luyện và gia đình của họ trong thời gian hắn nắm quyền. Sự bại hoại đạo đức đã dẫn đến cái chết đột ngột của hắn sau khi hắn được làm giám đốc.

Một người có ít đức có thể vượt trội lên và trông có vẻ thành đạt trong một khoảng thời gian ngắn nhưng hắn sẽ không thể giữ vị trí ấy được trong thời gian lâu. Hắn không thể dựa vào những móc nối, hay sự bạo hành để giữ địa vị của mình.

Một vài người có thể cho rằng họ chỉ làm theo mệnh lệnh và đó là công việc của họ phải làm. Tuy nhiên, như cổ nhân thời xưa có câu: “Dồn ép người vô tội chẳng khác nào việc lấy dao để giết họ.”

Khi các thành viên của ĐCSTQ thực thi nhiệm vụ là hành hung người vô tội đến chết chỉ vì đức tin của họ, khi các bác sĩ quân y thu hoạch nội tạng từ người tu luyện Pháp Luân Công – thì những hành vi đó có khác gì là của những kẻ giết người.

Xây dựng một nền tảng đạo đức vững chắc
Làm thế nào để có thể đạt được tiêu chuẩn đạo đức và không gặp phải bất hạnh trong cuộc sống? Cách đơn giản nhất đó là tu tâm dưỡng tính, tu bỏ những thói xấu, cố gắng tuân theo và áp dụng nguyên lý Chân-Thiện-Nhẫn làm phép tắc hành xử của mình trong đời sống hằng ngày.



Nhiều nhà thông thái đã đưa ra lời khuyên tương tự: “Nếu một người có đạo đức, người ấy sẽ thành đạt“,”Đề cao đạo đức giống như việc cải thiện số mệnh vậy“, “Xây dựng một nền tảng vững chắc cho những điều tốt đẹp trong cuộc sống chính là nâng cao đạo đức”, “Phẩm hạnh cao, có hi vọng càng nhiều“, “Một gia đình có nhiều người tốt sẽ được nhiều phước lành” …

Phước lành chỉ đến khi chúng ta có phẩm hạnh và đạo đức. Một người cố gắng nâng cao tiêu chuẩn đạo đức sẽ gặp nhiều điều tốt. Và chỉ khi một người làm điều đúng đắn, chân thật và tử tế thì mới có nhiều nổi tiếng, quyền lực và giàu có.

Kì thực, đạo đức và phẩm hạnh là cái gốc làm người. Người xưa có câu: “Thiên hữu đạo, tắc nhật nguyệt thanh minh. Nhân hữu đạo, tự nhiên xã hội an trữ” (Tạm dịch: Trời có đạo, thì nhật nguyệt rõ ràng. Người có đạo thì xã hội tất sẽ bình an). Chỉ có người người đều tuân theo sự chỉ dạy của bậc thánh nhân xưa, khôi phục lại bản tính lương thiện thì thiên hạ mới có thể thực sự thống nhất, nhân loại mới thực sự hòa ái, bình an. Con người có thể tuân thủ đạo đức, luân lý làm người thì chính là đang đi trên con đường đại đạo của bậc thánh hiền.

Tiểu Mai

------------------------------
http://songdep.tv/dao-duc-la-cai-goc-la ... -loan.html

User avatar
long
Posts: 586
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Đạo đức là nền tảng duy nhất

Postby long » Sat Jan 05, 2019 3:23 am

PV: Rất nhiều tôn giáo tồn tại dựa trên nền tảng của sự tha thứ, hy sinh vì người khác. Theo thiền sư thì điều gì khiến cho sự xung đột tôn giáo vẫn tiếp tục diễn ra trên thế giới này ?

Thích Nhất Hạnh (TNH): Tôn giáo có thể trở thành một yếu tố nhen nhúm chiến tranh, khi mà trong tôn giáo không có tinh thần bao dung, khi mà mình nghĩ rằng mình nắm trong tay chân lý và chỉ có mình mới độc quyền chân lý thì cái đó là thái độ rất là nguy hiểm. Nó sẽ đưa tới chiến tranh tôn giáo và chiến tranh khác. Cho nên vấn đề này là vấn đề bao dung.

Trong đạo Phật, tinh thần bao dung rất lớn và có tinh thần phá chất. Phá chất là không kẹt vào một hệ thống ý thức nào hết và vì vậy trong đạo Phật có rất nhiều tâm thái khác nhau nhưng không có chống đối nhau như là Chánh thống giáo, Do Thái giáo, và Công giáo. Công giáo này, Tin lành này, Chánh thống giáo và cả Hồi giáo nữa đều phát sinh ra từ một cái gốc. Như bông hồng được làm từ những yếu tố không phải là bông hồng như nắng, sương, gió nếu không có những cái đó thì làm gì có bông hồng.

PV:Hiện nay một số tổ chức tôn giáo trên thế giới có xu hướng trở thành những tổ chức siêu chính trị, cố tìm kiếm những ảnh hưởng đến nhà nước thế tục. Điều gì khiến các tổ chức ấy không theo đúng lý tưởng của mình mà lại càng ngày càng tham dự vào những công việc trần tục, càng ngày càng cố tìm kiếm những quyền lực của thế gian?

TNH: Nhập thế thì được chứ sao không, nhưng mà nhập thế thì phải giữ được cái bản chất của mình mới không đánh mất mình được. Tôi nghĩ là họ để cho chính trị lợi dụng và họ cũng muốn lợi dụng chính trị, trong khi cái mình muốn là tách rời chính trị ra khỏi tôn giáo và tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị. Điều đó mình không muốn nó xảy ra và có điều tôi muốn nói với quý vị, đạo Phật không phải chỉ là tôn giáo (thông thường), cái vỏ ngoài tôn giáo của đạo Phật không phải là toàn thể đạo Phật. Nó giống như là một trái mít, nó có cái vỏ mít, sơ mít trong nó là những múi mít rất ngọt thì cái phần chính yếu của đạo Phật là nguồn tuệ giác rất lớn. Mình đi đạo được thì mình sử dụng, mình chuyển hoá, mình trị liệu hoặc mình dựng lại cái tình thân và mình tạo hạnh phúc cho mình và cho gia đình mình cho đất nước mình. Chúng tôi đã giảng dạy và hướng dẫn cách thực tập đó ở Âu châu và ở Mỹ châu, bây giờ về Việt Nam để chia sẻ các môn mà chúng tôi đã tu luyện trong 30 - 40 năm thì đây là niềm hạnh phúc.



Ăn chay là để cho mình bớt bạo động:

PV: Thưa thiền sư, có rất nhiều người nhầm lẫn giữa phương pháp ăn chay của đạo Phật với phương pháp trường sinh của đạo Lão. Vậy phép ăn chay có ý nghĩa gì đối với người tu hành?

TNH: Chúng tôi thấy ăn chay là sự may mắn vì mình không phải ăn máu thịt của những loài khác. Vì loài nào cũng có sự ham sống sợ chết, loài người như vậy và các loài khác cũng vậy. Như con bò trước khi đi vào lò sát sinh, nó có linh tính nước mắt nó chảy ra thấy cũng tội. Thành ra khi mà mình được ăn chay, thì mình thấy ăn chay ngon và mình thấy được may mắn. Có nhiều người nghĩ rằng ăn chay không thể nào ngon bằng ăn mặn nhưng mà cái đó không có chắc gì hết, vì khi mà đã ăn chay thì lâu ngày rồi và đã thấy ngon như vậy rồi thì trở lại ăn mặn rất là khó.

PV: Trong tinh thần Phật giáo, thì mọi sinh linh trên trần gian này đều có duyên nghiệp như nhau: từ cỏ cây, sỏi đá cho đến các loài động vật - những loài có máu, tất cả đều ngang bằng nhau. Vậy điều thiền sư vừa nói có mâu thuẫn với tinh thần của đạo Phật?

TNH: Khác nhau là mức mình khổ đau. Cho nên vấn đề không phải là làm thế nào để hoàn toàn không có khổ đau mà vấn đề là để khổ đau nó ở mức thấp nhất. Cũng như là bất bạo động đó. Không thể nào không có bất bạo động 100% được nhưng mà càng bớt bạo động chừng nào thì càng tốt chừng đó. Vấn đề là như vậy. Thành thử ăn chay không giải quyết được tất cả vấn đề đâu. Ăn chay là để cho mình bớt bạo động, bớt đi đau khổ thôi chứ đừng tự hào lắm về việc ăn chay là vì khi mình luộc rau muống, thì mình cũng giết hàng triệu con vi khuẩn ở trong rau muống, thì cái đĩa rau muống có hoàn toàn chay đâu vì nó có những con như vậy.

Nhưng mà sống ở trên trái đất này thì phải biết nhận những cái đó thôi chứ muốn tuyệt đối không có được. Vấn đề là mỗi ngày mình thương yêu nhiều hơn một chút, có lòng từ bi lớn hơn một chút, thì đời sống mình có ý nghĩa. Và khi mình có một con đường tâm linh, thì mình có hạnh phúc, những người mà không biết đường đi thì những người đó như đi trong bóng đen không có hạnh phúc.

PV: Trong thời hiện đại, lớp trẻ nhiều khi rơi vào những trạng thái mất cân bằng trong cuộc sống. Ví dụ, chính bản thân tôi, khi tốt nghiệp đại học và đi làm, tôi va vấp phải những chuyện công sở, nhiều khi cảm thấy tuyệt vọng, vì thấy nó khác hẳn với môi trường trước kia mình đi học. Thiền sư có thể làm điều gì để giúp lớp trẻ luôn có được sự cân bằng, hài hoà trong tinh thần và trong tâm hồn?

TNH: Tôi có nói về quan điểm và cách chăm sóc tự thân mỗi khi (con người) có (gặp phải) một cảm xúc lớn như là tuyệt vọng, như là giận hờn, thì cái đó (con người đó) cần những phương pháp rất cụ thể. Khi mà giận hờn, tuyệt vọng, sợ hãi (được) tạo nên mà mình không có biết cách đối xử (với nó) thì nó sẽ tác hại, nó sẽ xui mình nói và làm những điều gây đổ vỡ trong phạm vi đôi lứa hay là gia đình và xã hội, và mình có thể vào tù như chơi. Vì vậy cho nên những phương pháp tập thở, tập đi, tập dành dụm và ôm ấp để làm dịu đi (những cảm xúc ấy là) rất quan trọng. Để cho người thanh niên có khả năng xử lý được những khó khăn như vậy mà không (tìm cách giải) thoát bằng cách tự tử hay là trừng phạt người khác, thì điều này cần thiết cho cả mọi người.

Nếu mọi người từ thời còn bé thơ được trang bị theo một chiều hướng tâm linh, đạo đức, và cái đức dục nó đi theo được cái trí dục, thì trên quá trình lớn lên (thì cái) chiều hướng tâm linh đó sẽ giúp cho mình đi đúng con đường chân thiện mà không có bị phá sản về tâm linh. Cho nên phép tu của chúng tôi tổ chức tại các nước Âu châu là chỉ để làm điều đó thôi, tức là giúp cho người ta những dụng cụ, để mà đối phó với những hoàn cảnh như vậy, những trạng huống tâm lý như vậy và vì đây không phải là sự cầu nguyện, đây là sự thực tập đàng hoàng

PV:Thưa thiền sư tại sao cuộc sống hiện đại làm cho nhiều người mất cân bằng?

TNH: Tại vì chúng ta bận rộn quá. Ngày xưa thì chúng ta sống đơn giản hơn, chúng ta có thì giờ. Ví dụ như chúng ta đi ăn tiệc thì chúng ta có thể đi bộ từ làng này sang làng khác và đến vào giờ nào cũng có cỗ để ăn hết. Ăn xong là nói chuyện với bè bạn, rồi ngắt một cành cây để xỉa răng và đi bộ về thôi. Còn bây giờ thì đâu có được, đến thì đến đúng giờ. Mình có máy móc nhiều, mình được trang bị nhiều nhưng mình không có thì giờ như ngày xưa. Quí vị có nhớ ngày xưa bơi cái thuyền nan ra hồ sen rồi lấy trà ướp bằng hương sen rồi pha trà uống ngay. Và bây giờ đâu có cái thú như vậy nữa.

Trịnh Công Sơn chưa có cơ hội để đi tu:

PV:Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà văn, nhiều nghệ sĩ nghiên cứu về Phật giáo. Thiền sư rất thân với nhà thơ Bùi Giáng và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Hai người đó là hai người mang tinh thần Phật giáo vào trong âm nhạc và trong thơ ca rất nhiều,. Nhưng một số người đọc khi đọc thơ của Bùi Giáng hoặc khi nghe nhạc của Trịnh Công Sơn thì chỉ cảm thấy tinh thần Phật giáo như một cái gì đó mơ hồ, ru ngủ con người ta nhiều hơn là để cho người ta có thể hoạt động tốt hơn. Thiền sư nghĩ thế nào về việc này ?

TNH: Mấy người đó họ chưa có cơ hội để tu, họ chỉ đọc sơ sơ, họ cảm tưởng, họ thấy đạo Phật là một cái nguồn thơ rất gần gũi với họ và trong những tác phẩm của họ cái đó nó biểu hiện ra chứ chưa bao giờ chính thức thực tập cho nên cái đạo Phật của họ rất là mơ hồ. Tôi có viết thơ cho Trịnh Công Sơn, tôi nói: Anh lên chùa đi, anh ở lại chùa một tuần, anh nghe kinh, anh đi thiền hành, anh thở, rồi nếu anh có cảm hứng anh sẽ viết nhạc những bài kệ trong sách thiền từng do tôi viết, nhưng mà tôi viết thơ trễ quá, lúc đó thì Trịnh Công Sơn bị ốm rồi.

PV: Theo thiền sư về âm nhạc thì thiền sư nhận xét thế nào về Trịnh Công Sơn?

TNH: Trịnh Công Sơn có tâm sự là tình bạn nó lành hơn tình yêu. Nó không để cho mình hệ luỵ, bị lên xuống, bị khổ đau như tình yêu. Vì vậy cho nên nếu trong tình yêu mà có tình bạn, thì mình sẽ có hạnh phúc hơn.

Cái đẹp được làm bằng tất cả:

PV:Trong xã hội hiện đại, các nền văn hoá được pha trộn với nhau, hoà lẫn vào nhau ngày một nhiều. Thiền sư có linh cảm rằng sẽ đến một ngày nào đó các nền tôn giáo trên thế gian này sẽ pha trộn với nhau tạo thành một tôn giáo duy nhất không?

TNH: Không. Tôi nghĩ các tôn giáo có thể ảnh hưởng nhau, có thể kích thích nhau để mình (tôn giáo ấy) có thể thay đổi như là khi những người Tin Lành, những người Do Thái tới thực tập với mình (thiền sư Thích Nhất Hạnh) thì bắt đầu họ có cái nhìn sâu, những cái nhìn mà chưa bao giờ họ có, khi họ tư duy lại họ thấy rằng ở trong truyền thống của họ nó cũng có những hạt giống của tuệ giác đó mà họ chưa bao giờ khám phá. Và khi đó họ trở về, họ khám phá ra, họ làm lớn lên thì cái tuệ giác của họ (để) nó trở nên bao dung hơn, thương yêu hơn, ít độc đoán hơn, ít giáo điều hơn.

PV: Theo linh cảm của Thiền sư thì dân tộc Việt Nam sẽ như thế nào trong 10 năm tới?

TNH: Mình nhìn vào tổng thể, thì mình thấy được tương lai đất nước này rất là đẹp. Tuy nhiên, mầu xanh của cây cối ngày càng ít đi. Nếu mình không cẩn thận mình sẽ mất đi nhiều hơn, mình sẽ thiết lập những sa lộ, những đường xe lửa phá hoại hết (rừng). Rồi ý thức về sinh môi của mình rất thấp. Chúng ta làm ô nhiễm môi trường rất nhiều. Nếu như ta không có tổ chức để giáo dục quần chúng về việc này thì chúng ta sẽ đánh mất rất nhiều cái quý cái đẹp của đất nước, rồi nếu chúng ta trong thời đại toàn cầu hoá này mà không có một cái chiều hướng tâm linh để sống, thì sẽ tạo ra biết bao nhiêu ly gián, khổ đau trong nội bộ của gia đình, của bản thân, của cộng đồng, kể cả cộng đồng tôn giáo.

PV: Hiện nay trên thế giới người ta hay đề cấp đến tính cách của Trung Quốc hiện đại, tính cách của Mỹ hiện đại, tính cách người Pháp hiện đại. Nếu một người nước ngoài hỏi thiền sư là: theo thiền sư tính cách của người Việt hiện đại là gì, thì Thiền sư sẽ trả lời họ như thế nào?

TNH: Chúng ta muốn dân chủ nhưng mà dân chủ theo chiều hướng tốt. Chúng tôi ý thức rằng cái đẹp được làm bằng tất cả cho nên chúng tôi không (chỉ) muốn bám víu vào sự an vui riêng của chúng tôi mà chúng tôi (cũng) muốn quý vị có được sự an vui đó. Tôi nghĩ rằng yếu tố Phật giáo nó cực kỳ quan trọng, vì nó rất bao dung và nó ôm lấy tuệ giác trong đạo Phật tương quan tương liên (liên quan đến tất cả những điều khác). Nếu thấy được cái đó thì không còn sự xa cách giữa nông thôn và thành thị, giữa cha và con, giữa Bắc và Nam và giữa tôn giáo này và tôn giáo khác, vì vậy, cho nên trong đạo Phật ẩn chứa về tương tác vô ngã tương sinh trong đạo chúa cũng vậy, những người cộng sản cũng, vậy ai cũng phải có tuệ giác ấy tự nhiên sẽ gần nhau.

Nguồn:VieTimes
---------------------------------------------
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-c ... _nhat.html

User avatar
long
Posts: 586
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Thị trường và đạo đức

Postby long » Sun Jan 06, 2019 1:52 am

Không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, khi kinh tế thị trường ngày càng phát triển, mọi sinh hoạt, mọi hàng hóa, mọi dịch vụ dường như ngày càng “thương mại hóa”, đã nổi lên nhiều ưu tư về sự suy thoái đạo đức của xã hội lẫn con người.

Có người giải thích sự kiện này với khẳng định: Thị trường khiến con người tham lam hơn, xấu xa hơn. Song, như nhiều học giả đã lý luận: Lòng tham thì vô bờ bến, những tính xấu của con người thì đã có từ khi loài người xuất hiện trên địa cầu, và chắc chắn sẽ tiếp tục cho đến ngày tận thế, trong bất cứ thể chế chính trị hoặc kinh tế nào. Thế nên, đi tìm lý do của sự suy kiệt đạo đức (nếu có) đặc thù của kinh tế thị trường thì phải đưa bằng chứng là hiện tượng ấy gắn liền với những đặc tính cá biệt của thị trường, chứ không phải chỉ vì bản tính chung chung của loài người.

Vài năm gần đây, người có nhiều đóng góp nhất về vấn đề này có lẽ là Michael Sandel, Giáo sư triết học của Đại học Harvard. Khởi điểm lý luận của Sandel là câu hỏi: Vì bản chất của thị trường là thương mại, có chăng những loại phẩm vật (hàng hóa hoặc dịch vụ) mà, xét theo một tiêu chuẩn đạo đức nào đó, không nên được mua bán trên thị trường? Theo Sandel, nếu có những vật phẩm như thế thì sự xuất hiện thị trường cho chúng trong một xã hội sẽ làm suy bại đạo đức của xã hội ấy.

*
* *

Để trả lời câu hỏi “tiền nên mua được cái gì và không nên mua được cái gì” Sandel đề nghị hai tiêu chuẩn: một là sự bất công bằng, hai là sự tổn thương các giá trị đạo đức.

(1) Thứ nhất, sự chọn lựa (trong việc mua bán) trong một thị trường có thể phản ảnh sự bất bình đẳng thu nhập và, quan trọng hơn, bất công bằng trong xã hội. Trong một xã hội mà mọi thứ đều có thể bán và mua, cuộc sống của những người có thu nhập khiêm tốn sẽ khó khăn hơn. Tiền càng mua được nhiều thứ thì sự dồi dào tiền bạc càng quan trọng. Nói rõ hơn, nếu lợi thế của người giàu chỉ là có thể mua xe sang, ở nhà đẹp, dùng hàng hiệu, du lịch nước ngoài, thì sự bất quân bình thu nhập (tuy sẽ tạo ganh tỵ) cũng không gây nhiều hậu quả tai hại. Nhưng trên thực tế thì tiền bạc còn mua được nhiều thứ nữa: thế lực chính trị, sức khỏe, biệt thự ở khu vực yên tĩnh, và con cái thì được vào những trường ưu tú... Chính những thứ này sẽ khiến độ chênh lệch thu nhập ngày càng lớn, làm sâu thêm sự bất công bằng trong một nước, và gây những chia rẽ trong xã hội nặng nề hơn từ thế hệ này sang những thế hệ tương lai... Chính vì thế, theo Sandel, xã hội phải hạn chế quyền lực của tiền bạc để giảm những hậu quả tai hại của những sự không bình đẳng ấy. Đặt một số hàng hóa và dịch vụ ra ngoài sự chi phối của thị trường là một cách chặn bớt hậu quả tai hại của sự bất công bằng xã hội.

(2) Thứ hai, thị trường của một phẩm vật có thể gây thương tổn cho những giá trị của con người và xã hội. Nhìn quanh, ta thấy ngay có nhiều thứ rất tốt đẹp (tình bạn, chẳng hạn) nhưng khi bị gán cho một giá tiền thì giá trị của chúng sẽ gần như không còn nữa. Một người mà anh phải trả tiền mới nhận làm “bạn” của anh thì rõ ràng không phải là bạn anh. Đừng nhầm lẫn tổng thể một thứ tốt đẹp như thế và những dịch vụ mà nó có thể “cung cấp” cho anh. Anh có thể thuê một người để trông nhà cho anh (dịch vụ của một người bạn) khi anh đi vắng, thậm chí anh có thể thuê một cố vấn tâm lý để nghe anh giãi bày “tâm sự”, nhưng, hiển nhiên, những người này không phải là “bạn” anh theo cái nghĩa thật sự của chữ này. Nói cách hoa mỹ, thị trường không chỉ là một cơ chế để phân bố hàng hóa và dịch vụ, nó còn phản ánh và khuyến khích một thái độ nào đó đối với những hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi. Thái độ này biến đổi chính bản chất của hàng hóa hoặc dịch vụ ấy.

Một ví dụ khác: Khi cha mẹ cho con tiền để nó đọc sách nhiều hơn thì đúng là đứa bé ấy có thể đọc nhiều hơn, nhưng đứa con ấy cũng được gián tiếp dạy rằng đọc sách là một “cực hình” hơn là một thú vui có giá trị tự tại. Tương tự, thuê người nước ngoài để chiến đấu cho chúng ta có thể tiết kiệm sinh mạng đồng bào ta, nhưng cũng làm suy kiệt ý niệm “công dân” một nước.

Như vậy, Sandel lý luận, có nhiều thứ mà tiền không thể nào mua, bởi vì nếu những thứ ấy mà được bán thì chúng không còn là chúng nữa.

Trên thực tế, hai tác hại của một số thị trường như đã nói trên (“không công bằng” và “tổn thương đạo đức”) thường quyện quấn vào nhau, đi đôi với nhau, và không phải bao giờ cũng trắng đen rõ ràng: có nhiều mức độ “không công bằng” và nhiều mức độ “tổn thương đạo đức”.

Lấy “thị trường” nội tạng (để ghép) của con người làm ví dụ. Dù rằng tiền có thể mua một quả thận, một nhãn cầu, mà không làm giảm giá trị y khoa của chúng, nhưng có nên cho phép nội tạng được tự do mua bán không?

Có hai lý do để ngăn cấm sự mua bán này. Một là, thị trường ấy sẽ có khuynh hướng bóc lột những người cùng cực nghèo khổ. Khó nói rằng quyết định bán thận của họ (để mua thức ăn chẳng hạn) là hoàn toàn “tự nguyện”. Cho phép một thị trường như thế tồn tại là vi phạm tiêu chuẩn “công bằng”, chẳng khác gì cho phép người giàu bóc lột người nghèo. Hai là, thị trường ấy sẽ làm tổn thương nhân phẩm, vì trong một xã hội như thế thì hóa ra con người chỉ là một tổ hợp những “linh kiện” (máu, mắt, thận, tim, phổi...) có thể lấy từ thân thể người bán để thay thế những bộ phận “hỏng hóc” ở thân thể người mua. Rõ ràng là tư duy ấy sẽ xúc phạm trầm trọng chuẩn mực đạo đức của đa số chúng ta.

Trẻ em là một ví dụ khác. Hiển nhiên, nếu muốn, chúng ta có thể cho phép một “thị trường” con nuôi. Nhưng không nên cho phép thị trường ấy vì hai lý do. Thứ nhất là vì công bằng. Một thị trường như thế sẽ thiên vị những người giàu có, bởi lẽ những người thu nhập thấp mà muốn có con nuôi thì sẽ chỉ “mua” được những đứa trẻ ít người muốn “mua” (vì đứa bé có dị tật hay thiểu năng, chẳng hạn). Thứ hai là thị trường ấy sẽ xúc phạm những giá trị nhân bản. Gắn cho trẻ em một giá tiền thì chuẩn mực “yêu thương vô điều kiện” của cha mẹ đối với con cái, mà mọi xã hội xưa nay đều coi là thiêng liêng, sẽ không còn nữa. Hơn nữa, sự chênh lệch giá cả (chắc chắn sẽ xảy ra) giữa em này và em khác sẽ củng cố ấn tượng rằng giá trị một đứa bé là tùy vào chủng tộc, giới tính, tiềm năng trí tuệ, thể hình của nó. Tương tự, “thị trường” nô lệ là kinh tởm vì nó xem con người như một loại hàng hóa, có thể (đấu giá) bán và mua. “Nhân phẩm” là vô nghĩa trong những cuộc đấu giá như thế.

Một ví dụ nữa: Lá phiếu của công dân một quốc gia dân chủ cũng không thể mua hoặc bán (dù có người sẵn sàng bán, mua!) vì bổn phận mỗi người dân là một trách nhiệm cộng đồng, không thể được xem là sở hữu của cá nhân. Cho phép mua bán lá phiếu là hạ thấp giá trị của nó, cho nó một nghĩa khác.

Những ví dụ trên đây đủ cho thấy giá trị của nhiều vật phẩm sẽ sút giảm, hoặc mất hẳn, nếu chúng có thể được mua bán trên thị trường. Khi chúng ta quyết định rằng một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó có thể mua và bán là chúng ta mặc nhiên chấp nhận rằng hàng hóa ấy có thể được xem như một món đồ, là một công cụ để sử dụng hoặc kiếm lời. Không phải giá trị của mọi thứ (ví dụ sức khỏe, giáo dục, đời sống gia đình, thiên nhiên, nghệ thuật, trách nhiệm công dân...) đều là như vậy. Để quyết định thứ nào được phép buôn bán, thứ nào không, xã hội phải thỏa thuận cách thẩm định giá trị thật của chúng. Đó là vấn đề thuộc phạm trù đạo đức và chính trị, không chỉ kinh tế, và lời giải sẽ tùy mỗi trường hợp. Không có một đáp số chung cho mọi thứ, mọi thời.



*
* *

Cho đến gần đây một giả định căn bản trong kinh tế học là sự “trung tính” của thị trường, nghĩa là bản chất hàng hóa hoặc dịch vụ được đổi trao sẽ không bị ảnh hưởng của thị trường. Nhưng, như Sandel và nhiều người khác đã phát hiện, giả định này không luôn luôn đúng. Thị trường có thể ảnh hưởng đến giá trị tự tại của một phẩm vật khi nó được mua bán bằng tiền. Trong nhiều trường hợp, giá trị trên thị trường át hẳn những giá trị phi thị trường, mà chính những giá trị phi thị trường này mới đáng giữ. Tất nhiên, không phải mọi người đều đồng ý giá trị nào là đáng giữ, và tại sao chúng đáng giữ. Do đó, để quyết định cái gì nên được mua bán trên thị trường, và cái gì là không nên, chúng ta phải quyết định giá trị nào cần được bảo tồn trong những bối cảnh khác nhau.

Theo Sandel, nên phân biệt kinh tế thị trường và xã hội thị trường. Kinh tế thị trường là một công cụ để cơ cấu hoạt động sản xuất và phân bố sản phẩm. Dù không tuyệt hảo (ngay những nhà kinh tế chuộng thị trường cực đoan cũng nhìn nhận rằng thị trường có nhiều “thất bại” cần sự can thiệp của nhà nước), công cụ ấy có những ích lợi và hiệu quả khó chối cãi. Xã hội thị trường, mặt khác, là một lối sống của con người trong xã hội trong đó giá trị thị trường chi phối mọi hoạt động, tư duy.

Như vậy, thị trường, ngoài những “thất bại” theo nghĩa thông thường còn có những ảnh hưởng sâu sắc, có thể là tai hại, đến đạo đức xã hội. Chúng ta có muốn trở thành một xã hội thị trường trong đó những liên hệ xã hội được tái lập theo hình mẫu của thị trường không? Đâu là vai trò và tầm mức thâm nhập của thị trường vào đời sống cộng đồng, vào liên hệ giữa con người với nhau? Đến mức nào thì chúng ta có thể cho phép thị trường làm biến dạng tư duy của chúng ta? Đó là những vấn đề cần suy nghĩ.

Nguồn:Thời báo Kinh tế Sài Gòn
------------------------------------------------------------------------
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-c ... o-duc.html

User avatar
long
Posts: 586
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Từng bước phát triển trên nền tảng đạo đức

Postby long » Sun Jan 06, 2019 2:29 am

Bài Thực dụng hay đấu tranh sinh tồn? của tác giả Đông Nguyễn trên TBKTSG ngày 27-10-2011, cho rằng môi trường làm ăn khó khăn và kém minh bạch hiện nay khiến lớp doanh nhân trẻ không tránh khỏi khuynh hướng thực dụng vì mục đích sinh tồn. TBKTSG đã ghi lại những phản hồi của các doanh nhân nhiều thế hệ về vấn đề này.

Ông Mai Hữu Tín, đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư U&I:

“Hãy cho doanh nhân trẻ thời gian và cơ hội”

Đọc bài Thực dụng hay đấu tranh sinh tồn?, tôi không có cùng suy nghĩ với “ông chú làm việc hai mươi năm ở nước ngoài” kia, cho rằng doanh nhân trẻ ngày nay là “vật dục, vô hậu”. Đúng là hiện có nhiều bạn trẻ (không hẳn là chủ doanh nghiệp) đang sống theo chủ nghĩa tiêu thụ. Họ tiêu xài lớn, thích hàng hiệu, thích nổi tiếng, muốn hưởng thụ sớm... Họ không quan tâm lắm đến cộng đồng, không chia sẻ nhiều với những hoàn cảnh khó khăn trong xã hội, không dấn thân vì những giá trị của thế hệ và dân tộc. Nhưng nếu xét trên toàn cục, số này không nhiều.

Ít nhất là trong hàng ngàn hội viên của Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam mà chúng tôi thường gặp gỡ và trao đổi với nhau, hầu hết không phải loại người vật dục, vô hậu như quan sát trên. Họ phải tự thân bươn chải, đấu tranh để sinh tồn với số vốn khởi nghiệp không lớn lắm. Họ chưa có đủ tích lũy để có thể tiêu xài theo ý mình hay có những đóng góp lớn về vật chất cho xã hội. Nhưng rõ ràng họ đang cố gắng tối đa trong công việc hàng ngày. Họ chịu khó học tập, chịu khó di chuyển, tiếp xúc để học hỏi và tạo quan hệ.

Theo tôi, ở Việt Nam chưa định hình diện mạo một đội ngũ doanh nhân cùng những đặc thù truyền thống doanh nghiệp như ở các nước phát triển. Mọi chuyện vẫn còn đang là những bước khởi đầu. Để hình thành tính cách doanh nhân, nhiều người trẻ đã và đang nghiên cứu các gương doanh nhân trên thế giới như Bill Gates, Warren Buffet hay Steve Jobs. Họ cũng theo dõi và noi theo lối sống cũng như cách hành xử của các bậc doanh nhân đàn anh, đàn chị ở trong nước. Nếu có chỗ này chỗ khác họ còn chưa trưởng thành, chưa chín chắn cũng là chuyện dễ hiểu. Hãy cho họ thời gian và cơ hội. Quan trọng hơn là tạo những tấm gương tốt thật sự để họ học hỏi. Đó phải chăng cũng là trách nhiệm xã hội của lớp doanh nhân thế hệ cha anh?



Bà Nguyễn Thị Thúy Kiều, Trưởng bộ phận Phát triển kinh doanh, Công ty EduKingdom:

“Thực tế, thực dụng chưa hẳn là xấu”

Một doanh nhân có nhiều năm kinh nghiệm từng nói rằng: “Làm kinh doanh mà không có lợi nhuận thì thật là có lỗi với tổ nghiệp”. Điều này càng trở nên khó khăn và đầy áp lực đối với thế hệ doanh nhân trẻ trong bối cảnh hiện nay. Để làm được điều đó họ cần phải rất thực tế.

Thực tế và thực dụng, trong một mức độ nào đó, không phải là điều xấu bởi nếu doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả thì khó mà nói đến chuyện góp phần phát triển cộng đồng, xã hội.

Dẫu vậy, không phải những doanh nhân thế hệ 7X, 8X như lứa chúng tôi không quan tâm đến xã hội. Có lẽ họ đang dừng ở mức độ ý thức và sự hưởng ứng, hay một số đóng góp nho nhỏ hơn là hy sinh lợi ích riêng vì lợi ích chung của toàn xã hội. Nhìn một cách nào đó, đó có vẻ là tấm áo vừa với họ.

Bà Lê Thị Giàu, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Thực phẩm Bình Tây:

“Không thể đi một bước từ không tới có”

Thật khó đồng tình với cách lập luận: “Dù là người điều hành thuê hay đang làm chủ các công ty (đủ loại hình, đủ quy mô), chúng tôi đều phải toan tính nhiều hơn trước quá nhiều nguy cơ rình rập: tình hình làm ăn ngày một khó khăn do kinh tế trì trệ, chính sách đối với doanh nghiệp cứ thay đổi xoành xoạch; tiền bạc ngày một khó kiếm trong khi các ngân hàng lại tăng cường siết nợ, vật giá leo thang...” (bài Thực dụng hay đấu tranh sinh tồn?).

Tôi thuộc thế hệ doanh nhân đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế đất nước, từ thời bao cấp cho đến nay. Tôi luôn tự nhủ, doanh nghiệp muốn phát triển cần phải đi theo trình tự. Cũng giống như đứa trẻ phải biết lật, trườn, bò, rồi mới chập chững tập đi. Nhìn lại các doanh nghiệp đã phát triển, họ luôn theo lộ trình từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, trong khi nhiều doanh nhân trẻ bây giờ muốn đùng một cái là có ngay điều mình muốn. Hay nói đúng hơn, mục tiêu họ đặt ra thường vượt ngoài khả năng của họ. Đây là lối suy nghĩ sai lầm dễ dẫn đến cách làm sai.

Những gì diễn ra trong năm 2011 có lẽ đủ để phản ánh “luật nhân quả” của những mong muốn biến không thành có để rồi phải hứng chịu cảnh bị ngân hàng siết nợ, cảnh phá sản, thậm chí không còn nước mắt để mà khóc!


Với những suy nghĩ thể hiện trong bài Thực dụng hay đấu tranh sinh tồn?, tôi cho rằng các bạn trẻ có nguy cơ lạc hậu, bắt nguồn từ sự ích kỷ. Cái tâm chưa thể hiện, cái tầm chưa nhìn đường dài thì khó mà phát triển.



Ông Phạm Đức Bình, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Đồng Nai, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thanh Bình:

“Không nên làm giàu bằng mọi giá”

Tôi cho rằng giới doanh nhân trẻ đang có nhiều cơ hội thăng tiến hơn thế hệ chúng tôi. Các bạn đang đi bằng thang máy thì chắc chắn sẽ nhanh hơn những doanh nhân lớn tuổi đã phải (thậm chí là đang) đi bộ.


Chúng tôi từng khởi nghiệp và bước vào thương trường bằng những nỗ lực hết mình, nhưng không cố gắng làm giàu bằng mọi giá! Đây chính là sự khác biệt giữa hai thế hệ.

Khó khăn và thách thức thời nào cũng có. Giới doanh nhân trẻ không nên lập luận kiểu “tôi đang vay nợ ngân hàng; sản xuất, kinh doanh đang gặp khó nên không thể tham gia các hoạt động thiện nguyện, phục vụ cộng đồng, xã hội”. Nếu đã suy nghĩ như vậy thì chẳng bao giờ làm được điều gì có ích cho cái chung.

Ông Vũ Văn Chầm (80 tuổi), Chủ tịch Hội Da giày TPHCM, Chủ tịch HĐQT Công ty Giày Việt (Vina Giày):

“Có đạo đức mới phát triển”

Những phương án thực dụng “một ngày một bữa” hòng “trụ lại và lai dắt con thuyền doanh nghiệp qua thời kỳ khó khăn...”, thực ra chỉ là cái cớ. Giới trẻ không nên đổ lỗi cho hoàn cảnh làm hư mình mà hãy tự rèn luyện bản thân để trở thành người có chính khí trên con đường kinh doanh.

Hẳn cũng có một bộ phận doanh nhân trẻ tự cho rằng tôi làm ra của cải thì tôi có quyền hưởng thụ theo cách mà tôi thích, thậm chí là một cuộc sống phóng dật. Đó chính là lúc các bạn đã đánh mất sự căn bản của hạnh phúc, mất thăng bằng trong cuộc sống. Và đây chính là nỗi lo của thế hệ doanh nhân đi trước.

Đối với doanh nhân trẻ, tôi nghĩ khi họ đã tích lũy được một số tài sản thì cần phải biết sử dụng hợp lý và có ích cho mình và cộng đồng. Phải tập buông xả vật chất đúng lúc, vì nếu quá tham đắm, sẽ tự ngã, mụ mị và đánh mất mình lúc nào không biết.

Một doanh nhân có tư cách đạo đức và bản lĩnh sẽ biết cách “né” những cám dỗ trong cuộc sống, để không bị biến thành kẻ nô lệ vật chất hay tội đồ trong mắt cộng đồng, và luôn hiểu rằng việc rèn giũa để trở thành một doanh nhân bản lĩnh, sống tử tế thì khó khăn và mất thời gian hơn rất nhiều so với làm một doanh nhân kiếm ra tiền và hưởng thụ vô độ.

Nguồn:Thời báo Kinh tế Sài Gòn
-------------------------------------------------------------
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-c ... duc-f.html

User avatar
long
Posts: 586
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Nhân sinh cảm ngộ: Đạo Trời sáng tỏ

Postby long » Thu Mar 07, 2019 12:17 pm

[Chanhkien.org] Vì ảnh hưởng của xã hội vật chất ngày nay, chuẩn mực đạo đức của con người đã trượt dốc rất nhiều. Mặc dù con người hưởng thụ trong sự khoái lạc của vật chất, nhưng con người sẽ không làm được gì khi bị khủng hoảng kinh tế hay chịu bệnh dịch cúm heo. Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử nói, “Người [thuận] theo Đất, đất [thuận] theo Trời, Trời [thuận] theo Đạo, và Đạo [thuận] theo tự nhiên”. Ý nghĩa là, con người phải tuân theo quy luật của xã hội người thường; nếu không sẽ bị trừng phạt. Ngược lại, luật pháp trong xã hội người thường phải theo đúng với Thiên lý; nếu không, con người sẽ nhận nghiệp báo vì hành động xấu mà họ đã gây ra. Khi xảy ra thiên tai, thì chắc chắn đã có những điều rất xấu trong xã hội. Vì thế, khi những Hoàng đế thời cổ gánh chịu những tai nạn tương tự, họ công khai tuyên bố lỗi lầm của họ và xin Trời tha tội. Đạo Trời áp dụng với mọi thứ và không có hành động nào thoát được trách nhiệm, không cần biết là con người có tin hay không. Thiện sẽ được phúc đáp và tà ác sẽ bị quả báo. Điều này thật ra là đúng.

“Đạo Trời sáng tỏ” (“Thiên nhật chiêu chiêu”) là những từ ngữ được viết bởi Nhạc Phi, một anh hùng ở triều đại nhà Tống. Ông viết lên sau khi ông ta bị hãm hại bởi Tần Cối và Trương Tuấn. Nhạc Phi bị giết hại ngay sau đó. Lời nói của ông như tiếng nói của chính nghĩa còn vang vọng mãi. Nó nâng cao tinh thần cho người chính nhân quân tử và làm kẻ ác run sợ. Sau khi Tần Cối giết Nhạc Phi, ông ta nghĩ ông ta sẽ tránh được hậu quả. Ngược lại, tội ác giết hại trung lương của ông ta thì ai cũng biết. Không những ông ta bị một cục u bướu lớn sau lưng, mà thậm chí tượng của ông ta cũng bị phỉ nhổ và bị chửi bới trong mấy ngàn năm qua.

Không có việc xấu hay người xấu nào có thể tránh được Đạo Trời. Giang Trạch Dân bí mật ký hiệp ước với Nga và bán hơn 1 triệu cây số vuông đất vùng Đông Bắc của Trung Quốc. Vì quá ganh tỵ, ông cũng đã khủng bố tàn nhẫn các học viên Pháp Luân Công bằng bạo lực và lừa dối. Tuy nhiên, Đạo Trời sẽ không cho phép chính sách khủng bố Pháp Luân Công tiếp tục, và Giang đã bị kiện ra toà về tội diệt chủng tại hơn 20 quốc gia trên thế giới. Đạo Trời tất yếu sẽ được thực thi. Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bị giải thể, là đến lúc Giang sẽ bị đưa ra trước công lý.

Có một câu chuyện vào thập niên 80 về một thanh niên tại thôn Chu Trấn, huyện Tây Hương, thành phố Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông. Khi đi chơi với người chú, cậu ta thấy một em bé bị bỏ rơi trong một cái mền cùng với một ít tiền cho người nhận nuôi em bé. Cậu ta đã lấy tiền và tấm mền nhưng bỏ em bé lại. Em bé đã bị chết vì lạnh. Mùa thu năm đó, cậu ta bị sét đánh chết trong khi đang làm ruộng với chú. Người chú cũng bị sét đánh vì không ngăn anh ta ăn cắp tiền và tấm mền. Người chú đã nói với mọi người về câu chuyện. Mẹ của cậu thanh niên khóc trong đau khổ trong khi ôm tấm mền mà than thở: “Đây là quả báo! Đây là quả báo!”

Có rất nhiều câu chuyện về những người đã nhận quả báo vì bức hại Pháp Luân Công. Lưu Minh Học là một công nhân tại Nhà máy sợi Plyester thuộc thành phố Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang, người đã miệt thị Pháp Luân Công. Khi bơi trong hồ bơi tại Thẩm Quyến vào tháng Sáu năm 2001, y đã bị sét đánh chết. Lý Trung Đức là một nhân viên tài chính tại huyện Khương Sơn, thành phố Lai Tây, tỉnh Sơn đông. Vào mùa xuân năm 2000, y đăng một bài thơ công kích Pháp Luân Công trên tờ Khương Sơn Nguyệt báo. Mùa hè năm đó, khi đang làm việc bên ngoài, y đã bị sét đánh chết. Có một người bán thuốc lá tại tỉnh Hồ Bắc cũng phỉ báng Pháp Luân Công. Những học viên Pháp Luân Công đã đến giảng rõ sự thật cho ông nhưng ông không chịu nghe. Sau đó ông cũng bị sét đánh chết. Một thường dân tại thôn Song Tỉnh Hương Mỗ, huyện Ngụy, tỉnh Hồ Bắc cũng nhục mạ Pháp Luân Công và nói rằng ông ta sẽ không bao giờ bị nghiệp báo. Ông ta đã bị sét đánh chết ngay hôm đó. Trương Đồng Hưng là thầy giáo dạy vẽ ở Trường trung học số 68 tại thôn Lập Bảo, huyện Tô Gia Đồn, thành phố Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh. Ông ta đã tổ chức một chiến dịch thâu thập chữ ký từ các học sinh để phỉ báng Pháp Luân Công. Ông ta cũng vẽ những hình ảnh để công kích Pháp Luân Công. Vào ngày 11 tháng 8 năm 2003, trời bỗng nhiên đổ mưa khi Trương đang câu cá và ông ta đã bị sét đánh chết. Đầu ông ta có một cái lỗ lớn sau khi bị sét đánh, và tóc của ông ta bị cháy.

Thiên tai bắt nguồn từ nhân họa. Vào năm 2003, bệnh dịch SARS tràn lan tại Trung Quốc. Sau đó, lại có bệnh lở mồm long móng và bây giờ là bệnh dịch cúm heo H1N1 đang lan tràn. Tất cả những điều này báo hiệu rằng “Thiên diệt Trung Cộng”. Theo giáo lý cổ truyền Trung Quốc, mỗi một ý niệm hay hành động đều được Thần chứng giám. Chư thần sẽ giúp đỡ những ai có đức độ. Vì thế, chỉ những ai chấp nhận lỗi lầm của mình và có thể sửa chữa lỗi lầm ấy thì mới tránh được thiên tai. Ai ai cũng biết chính sách khủng bố Pháp Luân Công đã kéo dài hơn mười năm. Hàng triệu học viên đã bị tra tấn tàn nhẫn và đã bị ép buộc tẩy não. Hơn ba ngàn học viên Pháp Luân Công thiện lương đã bị bức hại đến chết. Chính sách mổ cắp nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công của ĐCSTQ đã làm Trời đất phẫn nộ; ĐCSTQ rồi sẽ bị Trời diệt. Vì vậy, bất cứ ai đã từng gia nhập ĐCSTQ và các tổ chức có liên đới của nó (đoàn, đội) , hãy lập tức thanh minh thoái xuất khỏi ĐCSTQ để thoát khỏi nghiệp báo.

-----------------------
https://chanhkien.org/2009/11/ngo-thuc- ... ng-to.html



Return to “SOCIAL SCIENCE AND HUMANITY/KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN”