Các sai lầm của thuyết “chữ Hán ưu việt”

User avatar
long
Posts: 364
Joined: Mon Aug 05, 2019 6:06 am

Các sai lầm của thuyết “chữ Hán ưu việt”

Postby long » Tue Sep 03, 2019 4:33 am

Đã nhiều năm nay, thuyết “chữ Hán ưu việt” rất thịnh hành ở Trung Quốc. Thuyết này trái ngược nghiêm trọng với các nguyên lý khoa học kỹ thuật, gây ra sự ngộ nhận lớn trong xã hội, và cho sự phát triển khoa học và công nghệ thông tin Trung văn. Do vậy, Trung Quốc cần phải tiến hành dọn sạch các sai lầm của thuyết “chữ Hán ưu việt”.

I. Năm 1989, thuyết “chữ Hán ưu việt” bắt đầu tràn ngập đại lục Trung Quốc. Quan điểm phổ biến nhất hồi đó là: Trong các văn kiện của Liên Hợp Quốc, những tệp văn kiện in chữ Hán có độ dầy nhỏ nhất, cho nên chữ Hán ưu việt hơn các loại ngôn ngữ như Anh văn v.v…Vì người cổ súy cho thuyết này từng làm công tác phiên dịch tại trụ sở Liên Hợp Quốc nên quan điểm đó đã làm nhiều người nhầm lẫn1.

Ta đều biết, khi tiến hành bất kỳ sự so sánh nào phải có một tiền đề tối thiểu: điều kiện và phương thức phải như nhau. Thế nhưng cách viết tiếng Anh và cách viết chữ Hán là hai phương thức có điều kiện khác nhau: tiếng Anh dùng cách viết nối liền một dòng đơn [đơn tuyến] các ký tự chữ cái, còn chữ Hán dùng cách vẽ các nét bộ thủ trên bình diện. Nếu các nét bộ thủ ấy cũng dùng cách viết liền các ký tự trên một dòng thì độ dài của dòng cần thiết cho một chữ Hán thường là lớn hơn dòng viết chữ cái tiếng Anh. Nếu các từ tiếng Anh cũng dùng cách vẽ trên bình diện thì không gian bình diện cần vẽ chẳng khác mấy so với chữ Hán.

Như vậy, quan điểm nói “Trong các văn kiện của Liên Hợp Quốc, những tệp văn kiện in chữ Hán có độ dầy nhỏ nhất, cho nên chữ Hán ưu việt hơn các loại ngôn ngữ như Anh văn... ” là quan điểm hoàn toàn không có chút thường thức tối thiểu về so sánh, phân tích; sự so sánh như thế là không có ý nghĩa gì hết.

II. Những người cổ súy thuyết “chữ Hán ưu việt” nói: vì chữ Hán có lượng thông tin bình quân [平均信息量, Average information content] lớn, cho nên chữ Hán ưu việt hơn tiếng Anh.

Nguyên lý cơ bản của khoa học thông tin cho thấy: lượng thông tin bình quân của hệ thống ký hiệu mà dữ liệu sử dụng càng lớn thì tính bất ổn định và phí tổn [nguyên văn: tiêu hao] của hệ thống đó càng lớn, là yếu tố bất lợi cho việc quản lý và truyền thông tin.

Quan niệm cứ thấy “lớn” thì cho là tốt đã chiếm lĩnh đầu óc của nhiều người, bởi vậy khi thấy nói “chữ Hán có lượng thông tin bình quân lớn”, người ta bèn đoán mò nghĩ rằng điều đó thật là “ưu việt” xiết bao. Họ đâu có biết rằng đấy chính là yếu tố bất lợi cho việc quản lý và truyền dữ liệu. Lấy “chữ Hán có lượng thông tin bình quân lớn” làm lý do cho quan điểm “chữ Hán ưu việt” là việc làm đi ngược lại nguyên lý khoa học và tri thức cơ bản của lý thuyết thông tin.

III. Những người cổ súy thuyết “chữ Hán ưu việt” nói: trong thao tác máy tính, thao tác đưa chữ Hán vào máy tính nhanh hơn tiếng Anh, chỉ gõ vài phím là trên màn hình đã xuất hiện cả một cụm từ hoặc câu ngắn, trong khi tiếng Anh thì phải gõ từng chữ cái, vì thế chữ Hán “ưu việt” hơn tiếng Anh.

Đây là cách nói thiếu hiểu biết về máy tính bởi nguyên lý đưa vào lấy ra từ máy tính đều biết rằng mối quan hệ giữa cách hiển thị ký tự và việc thao tác bàn phím hoàn toàn là quy định của trình tự do con người làm ra.

IV. Thuyết “chữ Hán ưu việt” còn có một phát biểu nữa: “Vì chữ Hán có đặc điểm tượng hình, biểu ý nên nó đặc biệt thích hợp dùng cho khoa học kỹ thuật hiện đại, là thứ ngôn ngữ máy tính lý tưởng.”

Nói như thế là không đúng sự thật, cũng không hợp với nguyên lý làm việc của máy tính.

Từ ngày công nghệ máy tính Trung văn bắt đầu phát triển, thời gian dùng cho việc làm ra phương pháp đưa chữ Hán vào máy tính đã tốn mất hơn 30 năm, kinh phí và nhân lực bỏ ra lại càng không thể tính toán được. Thế nhưng cho tới nay, do kho dữ liệu chữ Hán vẫn không đủ dùng, việc đăng ký hộ khẩu tại cơ quan công an, việc đăng ký chủ tài khoản ngân hàng từng nhiều lần xảy ra trục trặc khó xử; vấn đề truyền và xử lý dữ liệu Trung văn xảy ra loạn mã cho đến nay cũng chưa hoàn toàn giải quyết xong. Kho dữ liệu chữ Hán hiện có là nhị tự tiết2; muốn bao gồm tất cả các chữ Hán thì tất phải dùng tứ tự tiết, khi đó chẳng nói cũng biết là giá thành sẽ cao và hiệu suất sẽ thấp. Điều đáng chú ý nữa là cứ cho rằng đã hoàn tất việc xây dựng kho dữ liệu chữ Hán đi nữa, thì cũng không thể đáp ứng nhu cầu quản lý toàn diện dữ liệu Trung văn.

Cái gọi là “ngôn ngữ máy tính” vừa không phải là Anh văn lại cũng chẳng phải là Trung văn hoặc ký hiệu văn tự nào khác loài người đang sử dụng. Nó là ngôn ngữ hệ nhị phân do “0” và “1” hợp thành, tức “ngôn ngữ máy”. Cho dù dữ liệu thuộc chủng loại hình vẽ, âm thanh hay chữ viết, việc xử lý máy tính của chúng đều được hoàn thành bởi thao tác đóng mở công tắc chế độ nhị phân, hoàn toàn không có quan hệ gì với việc ký hiệu văn tự nó sử dụng là tượng hình, biểu ý và với cách viết thư pháp của nó. Nếu ký hiệu chữ Hán là “ngôn ngữ máy tính lý tưởng hơn” hệ nhị phân, thế thì tại sao trên thế giới chưa có một máy tính nào (kể cả máy tính Trung Quốc sử dụng) bỏ hệ nhị phân, sử dụng hệ ký hiệu chữ Hán để thiết kế chế tạo?

V. Từ lâu Chính phủ Trung Quốc đã công bố Phương án bính âm3 Hán ngữ hiện đại [Scheme for Chinese phonetic alphabet] và các quy phạm tiêu chuẩn ngôn ngữ văn tự như Chính từ pháp [正词法, orthography, phép chính tả; ở đây là Phép chính tả của bính âm Hán ngữ]... cùng các quy phạm tiêu chuẩn quốc tế được các tổ chức quốc tế chính thức như Liên Hợp Quốc tiếp nhận sử dụng trên toàn cầu.

Thế nhưng những người cổ súy thuyết “chữ Hán ưu việt” lại nói các quy phạm tiêu chuẩn đó là “tả khuynh” và “mù quáng phương Tây hóa”; họ chủ trương trở về “Chú âm chữ Hán (Hán tự chú âm汉字注音)” cách nay ngót trăm năm. Do sự dẫn dắt sai lầm nghiêm trọng của thuyết “chữ Hán ưu việt”, hiện nay hầu hết tài liệu Trung văn và nhiều tài liệu chữ viết phát hành trong, ngoài Trung Quốc đều dùng phương pháp “Chú âm chữ Hán”, đem lại hậu quả tiêu cực nghiêm trọng cho công tác quản lý dữ liệu Trung văn.

Ví dụ câu “Bắc Kinh là thủ đô Trung Quốc”, theo phương thức viết bính âm Hán ngữ hiện đại của quy phạm tiêu chuẩn quốc gia, câu này viết là: “Beijing shi Zhongguo de shoudu”. Nhưng phương thức viết “Chú âm chữ Hán” do thuyết “chữ Hán ưu việt” chủ trương lại viết: “bei jing shi zhong guo de shou du”. Đến khi xử lý dữ liệu thì phương thức là “beijingshizhongguodeshoudu”. Chẳng cần nói nhiều, dùng phương thức này để xử lý dữ liệu Trung văn sẽ đem lại phí tổn lớn hoàn toàn không cần thiết cho việc phán đoán ranh giới từ [nguyên văn từ giới,词界, word boundary], khiến cho những việc xử lý dữ liệu như tra cứu, xếp thứ tự, và tự động phiên dịch sẽ xảy ra nhiều sai lầm khác nghĩa, làm giảm đáng kể hiệu suất công việc, thậm chí làm cho công tác quản lý vốn dĩ có thể hoàn thành một cách thoải mái lại trở nên khó hoàn thành; hơn nữa, cho dù có thể thể tất chuyện khác nghĩa thì vấn đề giá thành cao vẫn vượt quá sức tưởng tượng. Chính vì thế mà bao năm nay việc nghiên cứu các công nghệ đọc tự động và dịch tự động của Trung Quốc hầu như không có tiến triển thực chất nào.

Xét từ góc độ lịch sử văn hóa, cách viết Trung văn đã nhập khẩu phương pháp đánh dấu chấm câu của phương Tây, làm cho văn tự chữ Hán biểu đạt rõ ràng hơn, chuẩn xác hơn và dễ đọc hơn, tạo điều kiện cho việc xóa nạn mù chữ và giúp nhiều người hưởng cơ hội học tập. Cũng với lý lẽ như vậy, việc sử dụng các phương pháp như Chính từ pháp... để xác định ranh giới từ đã làm cho cách viết Hán ngữ tiến thêm một bước theo hướng rõ ràng, chuẩn xác và dễ đọc, có ý nghĩa tích cực quan trọng đối với việc phát triển công nghệ thông tin Trung văn và hiện đại hóa văn hóa. Việc áp dụng cách “Chú âm chữ Hán” như chủ trương của thuyết “chữ Hán ưu việt” chẳng những là sự thụt lùi văn hóa và tạo trở ngại con người gây ra cho nhiệm vụ phát triển công nghệ thông tin Trung văn, mà hơn nữa, xét từ góc độ đời sống quốc gia, việc chưa trải qua trình tự pháp lý đã phủ định, thậm chí có hành động chống đối các quy phạm tiêu chuẩn liên quan Chính từ pháp nhà nước đã ban hành, là một việc vô lý.

Thuyết “chữ Hán ưu việt” đi ngược lại sự thật và trái với nguyên lý khoa học, nhưng nhiều năm nay thuyết này đã lan tràn khắp xã hội Trung Quốc, đầy rẫy trên các báo đài. Thậm chí không ít quan chức nhà nước, viện sĩ, danh nhân, học giả và các nhà văn cũng theo nhau ai nói sao ta cũng bào hao nói vậy.

Muốn tự chủ sáng tạo phát triển công nghệ thông tin Trung văn, muốn nắm quyền chủ động chiến lược thì Trung Quốc phải dọn sạch các sai lầm nghiêm trọng do thuyết “chữ Hán ưu việt” gây ra.
Mễ A Luân(米阿仑) là bút danh của một học giả được Nhân dân Nhật báo Trung Quốc giới thiệu là “nông dân số hóa” sống ở Mỹ, nhiều khả năng là chuyên gia máy tính. Mạng people.com.cn cho biết: Mễ A Luân còn đóng vai trò chủ chốt trong chuyên mục “Xóm Mễ A Luân”, do Chinabyte (của Nhân dân Nhật báo và Tập đoàn Tin tức cùng tổ chức) chủ trì. Các bài viết ở chuyên mục này nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, đều nhằm chấn chỉnh những xu hướng sai lầm lớn trong đời sống văn hóa xã hội Trung Quốc.

Nguyễn Hải Hoành biên dịch và chú thích
Nguồn: http://opinion1.people.com.cn/GB/1036/4018643.html
-------
1 Tỷ lệ sử dụng sáu ngôn ngữ để soạn thảo các văn kiện ban đầu ở Liên Hợp Quốc như sau: Tiếng Anh 80%, Pháp – 15%, Tây Ban Nha – 4%, còn lại 1% cho Nga, A Rập, Trung Quốc (theo nhà ngôn ngữ Châu Hữu Quang).
2 Nhị tự tiết: dùng 2 bytes để mã hóa 1 ký tự. Tứ tự tiết: dùng 4 bytes để mã hóa 1 ký tự.
3 Bính âm (pīnyīn): Cách thức sử dụng chữ cái Latinh để thể hiện cách phát âm các chữ Hán trong tiếng phổ thông Trung Quốc.

------------------------------------------------
http://tiasang.com.vn/-van-hoa/Cac-sai- ... 0%9D-10858

User avatar
long
Posts: 364
Joined: Mon Aug 05, 2019 6:06 am

Re: Các sai lầm của thuyết “chữ Hán ưu việt”

Postby long » Sat Sep 28, 2019 11:10 am

Điềm báo của chữ Hán giản thể đã trở thành sự thực tại Trung Quốc
Có người cho rằng, những chữ Hán giản thể giống như là một điềm báo chẳng lành. Thực ra, điềm báo của chữ Hán giản thể đã trở thành sự thực, chuẩn xác một cách đáng sợ!

Văn hóa Á Đông không hề đơn giản như bề mặt mà mọi người nhìn thấy. Từng nét lễ nghi, từng bộ trang phục, từng nét chữ đều ẩn chứa những nội hàm vô cùng sâu sắc và liên hệ mật thiết với từng hơi thở trong cuộc sống của chúng ta.

Có một nét văn hóa mà không thể không nhắc đến, chính là nội hàm thâm sâu của loại chữ viết tượng hình – Chữ Hán chính thể. Tuy nhiên, sau khi chữ Hán bị giản lược, thì những nội hàm ấy cũng bị mất đi, thay vào đó là sự lệch lạc, thậm chí biến dị. Đồng thời, chữ Hán giản thể còn mang một điềm báo chẳng lành.


Có một cư dân mạng Trung Quốc đã liệt kê ra hàng loạt các chữ Hán giản thể. Tác giả đối chiếu những chữ Hán giản thể này với các hiện tượng tai nghe mắt thấy trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Và điều nhìn thấy được khiến người ta không khỏi phải giật mình kinh ngạc.

1. Thân bất kiến

Chữ “Thân” chính thể 親 (người thân)
Chữ “Thân” giản thể 亲, mất chữ “Kiến”
Thân bất kiến: Người thân không gặp được nhau. Một năm chẳng biết cha mẹ, con cái, người thân tại Trung Quốc được đoàn tụ bao nhiêu lần? Nơi nào cũng thấy lưu lại những cuộc tình chớp nhoáng. Các quý ông, quý bà khinh thường đạo lý, lang chạ khắp nơi. Điều này khiến những người cùng huyết thống cũng chẳng được vui vầy bên nhau.

2. Sản bất sinh

Chữ “Sản” chính thể 產 (sinh sản)
Chữ “Sản” giản thể 产, mất chữ “Sinh” 生
Sản bất Sinh: Đậu thai mà không sinh. Ngày nay các phòng khám tư, phẫu thuật phá thai ở Trung Quốc nơi nào cũng thấy. Ngoài ra, chữ “Sản” chính thể còn có nghĩa là của cải về mặt đất đai. Ruộng màu thì bị bỏ hoang, mọi người đổ dồn về các khu công nghiệp và thành phố lớn, không cần ngũ cốc chỉ lo kiếm tiền.

3. Hương vô lang

Chữ “Hương” chính thể 鄉 (Quê hương)
Chữ “Hương” giản thể 乡, mất chữ “Lang” 郎 – những người trẻ
Hương vô Lang: Quê nhà không có người trẻ. Ở Trung Quốc, ai nấy đều đổ về thành phố lập nghiệp mưu sinh. Trong thôn làng khó có thể bắt gặp những khuôn mặt trẻ trung. Khắp cả ngôi làng chỉ thấy những người già yếu, trẻ con và người tàn tật. Đây cũng chính là một cảnh tượng thường thấy nhất tại Trung Quốc ngày nay.

4. Ái vô tâm

Chữ “Ái” chính thể 愛 (Yêu)
Chữ “Ái” giản thể 爱, mất chữ “Tâm” 心 – trái tim
Ái vô tâm: Yêu không xuất phát từ trái tim. Ngày nay thử hỏi có mấy người còn giữ tấm chân tình son sắt, hay là chỉ quen chạy theo thời thế xô bồ. Đại gia cặp với chân dài. Kẻ ham tiền, người háo sắc, hễ có lợi là trao thân. Tình một đêm, tình sét đánh, tình chớp nhoáng khiến nhà nghỉ mọc lên nhan nhản khắp nơi. Quả là tình yêu không còn sự kết nối thiêng liêng và trách nhiệm suốt cuộc đời.

5. Miến vô mạch

Chữ “Miến” chính thể 麵 (Mỳ)
Chữ “Miến” giản thể 面, mất “bộ Mạch”麥 – Lúa mỳ
Miến không mạch: Bột mỳ không làm từ lúa mạch, thì làm từ thứ gì, bạn thử đoán xem? Bột mỳ không có mùi lúa mạch, kỳ thực đã trộn lẫn phoóc môn. Đây cũng là tình trạng làm giả thực phẩm, gạo giả… phổ biến trong xã hội Trung Quốc ngày nay.

6. Tiến bất giai

Chữ “Tiến” chính thể 進 (Tiến tới)
Chữ “Tiến” giản thể 进, mất chữ “Giai” 佳 – Tốt
Tiến bất giai: Bước tiếp sẽ không may mắn, mà thành con ếch ngồi trong đáy giếng. Chữ Tiến chính thể là bước tới điều tốt đẹp (Giai) thì nay là tiến xuống giếng (Tỉnh 井: cái giếng). Sự nghiệp cả đời truy cầu chỉ như mò trăng đáy nước, tiền tài cũng như hái hoa trong gương.

7. Ứng vô tâm

Chữ “Ứng” chính thể 應 (Đáp ứng)
Chữ “Ứng” giản thể 应, mất chữ “Tâm” 心
Ứng vô tâm. Lời nói gió bay, dẫu hứa hẹn cũng khó thành hiện thực, nói lời lật lọng mà không biết ngượng ngùng. Người xưa rất xem trọng chữ Tín, coi lời thề hẹn nặng tựa núi Thái Sơn, lời nói ra là đã được Trời Đất làm chứng, ắt phải thực hiện. Nhưng trong xã hội Trung Quốc ngày nay ‘thành tín’ ngày càng mai một, dường như đã trở thành một thứ gì đó xa xỉ không thể với tới.



8. Thính bất nhĩ

Chữ “Thính” chính thể 聽 (Nghe)
Chữ “Thính” giản thể 听, mất chữ “Nhĩ” 耳 – tai
Chữ “Thính聽” (lắng nghe) ở dạng chính thể gồm bộ “Nhĩ耳” (tai), bộ “Vương 王” (vua), chữ “Thập 十” (mười), chữ “Mục目” (mắt), chữ “Nhất一” và chữ “Tâm 心”.

Nếu ghép các bộ này vào nhau chúng ta sẽ hiểu được hàm ý mà cổ nhân muốn gửi gắm. Khi lắng nghe một ai đó, chúng ta phải khiến người ấy cảm thấy họ quan trọng như một vị vua (chữ Vương), và lắng nghe bằng đôi tai của mình (bộ Nhĩ). Đồng thời chúng ta còn phải dồn mọi ánh nhìn và sự chú ý tới họ (chữ Thập, chữ Mục). Nhưng như vậy vẫn chưa đủ, điều quan trọng nhất là phải dành trọn trái tim để cảm nhận những điều họ nói (chữ Nhất, Tâm). Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể lắng nghe trọn vẹn những thông điệp mà họ muốn truyền tải, mới biết cách thấu hiểu và trân trọng người khác.

Chữ “Thính” 听 giản thể là Thính thiếu Nhĩ: Nghe mà thiếu mất tai. Nó chỉ gồm bộ “Khẩu口” (cái miệng) và bộ “Cân斤” (cái rìu). Đại ý là không phải dùng tai, dùng mắt, hay dùng tâm để lắng nghe như văn hóa truyền thống, mà là đáp lại bằng miệng, bằng những lời búa rìu sắc nhọn.

9. Ưu vô lo

Chữ “Ưu” chính thể 優 (Ưu tú)
Chữ “Ưu” giản thể 优, mất chữ “Ưu” 憂 – ưu lo
Ưu cần phải có lo: Muốn thành người ưu tú, xuất chúng cần phải biết lo lắng cho đại cục, cho người khác. Bậc hiền tài như vậy trong thiên hạ là khó cầu nhất. Người tài thời nay nghĩ đến vinh hoa, phú quý cho riêng mình hay lợi ích cho muôn dân? Những người nhiều tài lắm tật, e rằng lợi ít hại nhiều. Kiểu người này chỉ khiến con người càng thêm lo sầu.

10. Thái vô thủ

Chữ “Thái” chính thể 採 (Hái)
Chữ Thái giản thể 采, thiếu bộ Thủ 手 – Cái Tay
Thái vô Thủ: Muốn hưởng mà không muốn động tay ra hái. Ngồi mát ăn bát vàng người người muốn, đục nước béo cò kẻ kẻ cầu. Đây cũng có thể nói là một thực trạng dễ thấy trong xã hội ngày nay. Những cậu ấm cô chiêu Trung Quốc, những thế hệ trẻ chỉ biết ‘cúi đầu’ chờ đợi từ sự sắp đặt của cha mẹ mình, chỉ mong cầu hưởng thụ cuộc sống giàu sang mà không biết ra tay làm việc.

11. Bút… cong

Chữ “Bút” chính thể 筆
Chữ “Bút” giản thể 笔
Ngày nay bút không còn thẳng. Con người Trung Quốc thời nay thường dùng bút cong mà viết sử nên gọi là bẻ cong sử sách. Bút ngay sử thẳng xưa đã có, tới nay sóng gió đã cuốn trôi.

12. Tân hữu binh

Chữ “Tân” chính thể 賓 (Quan khách)
Chữ “Tân” giản thể 宾, thiếu chữ Bối 貝 – Bảo bối, thêm chữ “Binh” 兵 – Binh lính
Xưa kia khách quý đến nhà mang theo quà quý (貝– Bảo bối). Chủ nhà bày biện yến tiệc, khoản đãi với tấm lòng thành. Ngày nay binh lính tới nhà (Bộ “Miên” 宀 chỉ mái nhà), không chỉ thiếu quà quý, mà còn có binh đao. Từ xưa đã gọi chuyện này là loạn cõi thế gian.

13. Miếu bất triều

Chữ “Miếu” chính thể 廟 (Chùa chiền)
Chữ “Miếu” giản thể 庙, thiếu chữ “Triều” 朝 – nghi thức bái lạy
Miếu bất Triều: Trong miếu mà không thấy thật tâm tiến hành những nghi lễ bái lạy Thần Phật. Ngày xưa chùa chiền là nơi con người ăn năn sám hối, bởi con người kính cẩn bái lạy Thần Phật, mong tìm được sự thanh thản trong tâm. Ngày nay, chùa chiền như chiếc áo khoác của những kẻ vô Thần, trở thành thắng cảnh du lịch, thành nơi kiếm chác, trao đổi của kẻ phàm tục. Người mà quỷ thần cũng không sợ, ắt sẽ to gan dám làm càn.

14. Võng vô mịch

Chữ “Võng” chính thể 網 (Lưới)
Chữ “Võng” giản thể 网, mất bộ Mịch 糸 – sợi cước
Lưới không có cước, lưới vô dụng, cá lọt lưới trước mắt như thể trêu ngươi. Pháp luật Trung Quốc cũng như một chiếc lưới. Ngày xưa Thiên tử cũng phải chịu tội như thứ dân. Ngày nay quyền thế thay pháp luật một cách vô nguyên tắc, thậm chí có thể lợi dụng quyền thế trong tay mà một tay che cả bầu trời.

15. Hậu nhất khẩu

Chữ “Hậu” chính thể 後 (Đời sau)
Chữ “Hậu” giản thể 后, thêm chữ nhất 一, bộ khẩu 口
Đời sau chỉ được sinh một con, về già cha mẹ ốm đau bệnh tật khó lòng nhờ vả… “Kế hoạch hóa gia đình là quốc sách, sinh quá một con gia đình nghiêng ngả” – Đây là chính sách một con từng làm điêu đứng xã hội Trung Quốc. Bao nhiêu hệ lụy của xã hội, quả thực cũng khiến lòng người âu lo.

Ở trên chỉ là một số ít ỏi được đưa ra, nhưng cũng đủ để biết rằng chữ Hán sau khi bị giản lược thì những nội hàm tinh túy của văn hóa truyền thống Trung Hoa cũng bị mất đi, thay vào đó là sự sai lệch, biến dị.

Mà điều đáng tiếc hơn cả là sự suy đồi và trượt dốc trong xã hội, dường như cũng đã và đang diễn ra đúng theo từng sự lệch lạc trong chữ Hán giản thể đó. Vậy nên, có người Trung Quốc cho rằng, những chữ Hán giản thể này giống như là một điềm báo chẳng lành vậy!

Quả đúng là:

Học giả chân chính đứng một bên,
Cải cách chữ Hán mù văn hóa.
Thiên thu vạn đại trò hề diễn,
Duy chỉ điềm báo chẳng hề sai.

Hiểu Mai biên dịch
----------------------------------------------------------
https://trithucvn.net/van-hoa/nhung-die ... -thuc.html



Return to “LANGUAGE/NGÔN NGỮ”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest