Mọi sự do con người,cuối cùng con người là thứ màn đêm tăm tối,đạo Kito giáo mới đảo ngược được

User avatar
admin
Site Admin
Posts: 669
Joined: Sat Jun 27, 2020 8:13 pm

Mọi sự do con người,cuối cùng con người là thứ màn đêm tăm tối,đạo Kito giáo mới đảo ngược được

Postby admin » Wed Sep 23, 2020 11:56 am

TƯƠNG QUAN GIỮA AĐAM VÀ CHÚA KITÔ viewtopic.php?f=36&t=8928
Mầu nhiệm của ánh sáng và sự thiện chiến thắng mầu nhiệm của tối tăm và sự ác

”Mầu nhiệm của ánh sáng và sự thiện chiến thắng mầu nhiệm của tối tăm và sự ác. Mùa Vọng mời gọi chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô suối nguồn ánh sáng và bước vào dòng sông ánh sáng, để trở thanh những người trao ban ánh sáng, tạo dựng hòa bình và làm chứng cho sự thật”. Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên trong buổi tiếp kiến hơn 8000 tín hữu và du khách hành hương sáng thứ tư 3-12-2008 trong đại thính đường Phaolô VI. Trong số các đoàn hành hương có nhóm tín hữu Việt Nam thuộc giáo xứ Đức Bà, Giorgia, Hoa Kỳ.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài giáo lý ”Tương quan giữa Ađam và Chúa Kitô”. Ngài nói:

Anh chị em thân mến, trong bài giáo lý hôm nay chúng ta sẽ dừng lại trên các tương quan giữa Ađam và Đức Kitô, như thánh Phaolô đã vạch ra trong một trang nổi tiếng của thư gửi tín hữu Roma (5,12-21), trong đó thánh nhân cống hiến cho Giáo Hội các đường nét chính của giáo lý về tội tổ tông. Thật ra khi nói về lòng tin vào sự sống lại trong thư gửi tín hữu Corintô, thánh nhân đã so sánh giữa nguyên tổ và Chúa Kitô: ”Qủa thế, như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống… Con người đầu tiên là Ađam được dựng nên thành một sinh vật, còn Ađam cuối cùng là thần khí ban sự sống” (1 Cr 15,22.45). Với văn bản thư gửi tín hữu Roma chương 5,12-21 sự so sánh giữa Đức Kitô và Ađam trở thành chi tiết và soi sáng hơn: thánh Phaolô đi lại con đường lịch sử cứu độ từ Ađam cho tới Lề Luật và từ Lề Luật cho tới Đức Kitô. Trọng tâm của lịch sử đó không phải là Ađam với các hậu qủa tội lỗi của nhân loại cho bằng Đức Giêsu Kitô và ơn thánh, qua Người được đổ tràn đầy trên nhân loại, vượt xa tội lỗi của Ađam và các hậu quả của nó trên cuộc sống con người. Vì thế thánh Phaolô mới kết luận: ”Nhưng ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20).

Trong lòng tin của Giáo Hội ý thức tín điều về tội tổ tông đã chín mùi vì nó gắn liền với tín điều về ơn cứu rỗi và sự tự do trong Chúa Kitô. Do đó không được đề cập tới tội của Ađam và của nhân loại tách rời khỏi bối cảnh ơn cứu rỗi trong chân trời của sự công chính hóa trong Đức Kitô.

Nhưng mà tội tổ tông là gì, thánh Phaolô và Giáo Hội dậy gì về tội tổ tông? Nhiều người cho rằng dưới ánh sáng lịch sử tiến hóa, ngày nay không còn có chỗ cho một tội ban đầu rồi lan tràn trên toàn thế giới nữa. Và hậu qủa là cả vấn đề liên quan tới sự cứu rỗi và Đấng Cứu Thế cũng không còn nền tảng nữa. Như thế có tội tổ tông hay không?

Để có thể đưa ra câu trả lời chúng ta phải phân biệt hai khía cạnh: một khía cạnh kinh nghiệm cụ thể mà mọi người có thể sờ mó được, và một khía cạnh nhiệm mầu liên quan đến nền tảng bản thể học của sự kiện này.

Dữ kiện kinh nghiệm cụ thể đó là sự mâu thuẫn trong chính chúng ta. Một đàng mọi người đều biết là mình phải làm điều thiện, và tận sâu thẳm con người muốn làm điều thiện. Nhưng đồng thời nó cũng cảm thấy sức thúc đẩy làm ngưực lại, đi theo con đường của sự ích kỷ, bạo lực, chỉ làm điều nó ưa thích, cả khi biết làm như thế là chống lại sự thiện, chống lại Thiên Chúa và tha nhân. Trong thư gửi tín hữu Roma thánh Phaolô diễn tả nó như sau: ”Muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không; thật vậy sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại làm” (Rm 7,18-19). Sự mâu thuẫn bên trong con người của chúng ta đó không phải là một lý thuyết. Mỗi người trong chúng ta đều sống kinh nghiệm này hàng ngày. Chỉ cần nghĩ tới các tin tức hàng ngày liên quan tới các bất công, bạo lực, dối trá, trụy lạc thì đủ biết. Chúng ta trông thấy nó mỗi ngày: đó là một sự kiện.

Hậu qủa của quyền lực sự dữ đó trong tâm hồn chúng ta phát triển trong lịch sử thành một dòng sông bẩn thỉu, làm ô nhiễm địa lý của lịch sử nhân loại. Tư tưởng gia người Pháp Blaise Pascal đã nói tới một ”bản tính thứ hai” chồng lên bản tính nguyên thủy của chúng ta. ”Bản tính thứ hai đó” khiến cho sự dữ trở thành bình thường đối với con người.

Kiểu nói ”đó là nhân bản” có hai nghĩa: nghĩa tốt ám chỉ điều mà một người phải làm như là người; nghĩa xấu ám chỉ sự gian dối sự dữ là điều bình thường. Sự dữ xem ra đã trở thành bản tính thứ hai của con người. Chính sự mâu thuẫn đó của con người, của lịch sử khơi dậy ước mong ơn cứu độ. Thật thế, ước mong thế giới này thay đổi là lời hứa tạo dựng một thế giới công bằng hòa bình, tốt lành hiện diện khắp nơi. Chẳng hạn trong lãnh vực chính trị: mọi người đều nói tới việc cần thiết phải thay đổi thế giới, phải tạo ra một thế giới công bằng hơn. Nó diễn tả ước mong một sự giải thoát khỏi sự mẫu thuẫn nội tại đó.

Đức Thánh Cha giải thích sự hiện hữu của sự dữ như sau:

Như thế sự kiện quyền lực sự dữ trong trái tim và trong lịch sử con người là điều không thể chối cãi được. Vấn đề đó là phải giải thích nó thế nào đây? Ngoài lòng tin Kitô ra, trong lịch sử tư tưởng có một mô thức giải thích chính, với các thay đổi khác nhau. Mô thức đó nói rằng con người mâu thuẫn, nó mang trong chính mình sự thiện cũng như sự dữ. Vào thời xa xưa người ta cho rằng ngay từ nguyên thủy đã có hai nguyên lý thiện ác bằng nhau. Đó là thuyết nhị nguyên không thể thắng vượt được. Sự mâu thuẫn trong con người chỉ là phản ảnh sự trái nghịch của hai nguyên lý đó. Trong quan điểm của thuyết tiến hóa vô thần thì ngay từ ban đầu con người đã mang trong mình sự thiện và sự ác rồi. Và lịch sử nhân loại chỉ phát triển mô thức đã có sẵn trong toàn sự tiến triển có trước. Điều mà tín hữu Kitô gọi là tội tổ tông thật ra chỉ là tính cách trộn lẫn sự thiện và sự ác thuộc bản chất con người. Đây là một quan điểm tuyệt vọng: nếu như thế thì sẽ không thể nào chiến thắng được sữ dữ. Và sau cùng thì chỉ có lợi lộc riêng tư là quan trọng. Và mỗi tiến bộ đều cần phải trả bằng một dòng sông sự dữ, và ai muốn phục vụ tiến bộ thì phải trả giá mắc mỏ đó. Nói cho cùng, chính trị được định hướng theo các tiền đề đó: và chúng ta trông thấy các hậu qủa của nó. Rốt cuộc tư tưởng này chỉ có thể tạo ra thái độ sống buồn sầu và vô luân.

Lòng tin như thánh Phaolô trình bầy xác nhận sự tranh đua giữa hai bản chất đó và và sự kiện bóng dáng sự dữ đè nặng trên thụ tạo. Chương 7 và chương 8 của thư gửi tín hữu Roma khẳng định sự hiện hữu của sự dữ. Trái ngược với hai thuyết nhị nguyên và nhất nguyên luận thê lương trên đây, lòng tin cho chúng ta biết có hai mầu nhiệm ánh sáng và một mầu nhiệm bóng tối, bị vây bọc bởi hai mầu nhiệm ánh sáng. Mầu nhiệm ánh sáng thứ nhất cho biết rằng không có hai nguyên lý, một tốt một xấu, mà chỉ có một nguyên lý là Thiên Chúa Tạo Hóa, và đó là nguyên lý tốt, không có bóng tối. Vì thế bản thể không phải là một trộn lẫn lành dữ, mà tự nó là tốt và do đó hiện hữu là tốt, sống là tốt. Đó là tin vui do lòng tin loan báo. Chỉ có một suối nguồn tốt lành là Đấng Tạo Hóa. Và vì vậy sống là một sự thiện, là nam hay nữ là một điều tốt lành, và sự sống tốt lành. Thế rồi có một mầu nhiệm của tối tăm. Sự dữ không đến từ suối nguồn của bản thể, không có từ nguyên thủy. Sự dữ đến từ một sự tự do được tạo dưng, một sự tự do bị lạm dụng.

Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: Làm sao có thể xảy ra điều đó được? Đây là điều tối tăm khó hiểu. Sự dữ không có luận lý. Chỉ có Thiên Chúa và sự thiện là có luận lý, vì là ánh sáng. Sự dữ là điều bí nhiệm. Các hình ảnh lớn trong chương 3 sách Sáng Thế: hai cây sự sống và cây biết lành biết dữ, con rắn, con người tội lỗi chỉ giúp chúng ta đoán ra, nhưng không giải thích cái vô luận lý trong chính nó. Chúng ta chỉ có thể ước đoán chứ không giải thích hay kể lại như một sự kiện, vì nó là một thực tại sâu thăm hơn. Nó là một mầu nhiệm của tối tăm. Nhưng tiếp theo là một mầu nhiệm ánh sáng khác: đó là sự dữ là một suối nguồn bị chế ngự. Với ánh sáng của Ngài Thiên Chúa mạnh mẽ hơn. Vì thế có thể thắng vượt được sự dữ. Do đó con người có thể được chữa lành. Sách Khôn Ngoan nói rằng: ”Chúa đã dựng nên các quốc gia có thể chữa lành” (1,14 Volg).

Và điểm sau cùng đó là con người không chỉ có thể được chữa lành, mà đã thực sự được chữa lành. Thiên Chúa đã bước vào lịch sử loài người và chữa lành con người. Ngài đã chống lại suối nguồn dơ bẩn bằng suối nguồn tinh tuyền. Đức Giêsu Kitô bi đóng đanh, Ađam mới, dùng con sông ánh sáng chống lại con sông dơ bẩn. Và con sông này hiện diện trong lịch sử: chúng ta trông thấy nó nơi các thánh lớn nhỏ và các tín hữu đơn sơ. Chúng ta thấy dòng sông ánh sáng chảy ra từ Chúa Kitô hiện diện và mạnh mẽ.

Mùa Vọng là thời gian của sự hiện diện và chờ đời. Ánh sáng hiện diện. Chúa Kitô là Ađam mới ở với chúng ta và ở giữa chúng ta. Chúng ta phải mở mắt ra để trông thấy ánh sáng và bước vào dòng sông ánh sáng. Nhất là chúng ta phải biết ơn sự kiện Thiên Chúa đã bước vào lịch sử như suối nguồn sự thiện. Nhưng Mùa Vọng cũng là thới gian của chờ đợi. Đêm đen của sự dữ vẫn còn dầy đặc. Vì thế cùng với dân Chúa chúng ta cầu xin ”Trời cao hãy đổ sương xuống” và tha thiết cầu xin: lậy Chúa Giêsu xin hãy đến, xin hãy đến trao ban sức mạnh cho ánh sáng và sự thiện; xin hãy đến ở những nơi có sự thống trị của dối trá, không biết đến Thiên Chúa, của bạo lực và bất công. Lậy Chúa Giêsu, xin hãy đến ban sức mạnh cho sự thiện trong thế giới này và giúp chúng con trở thành những người trao ban ánh sáng, tạo dựng hòa bình và làm chứng cho sự thật.

Sau khi chúc mọi người Mùa Vọng sốt mến Đức Thánh Cha đã cất kinh lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải

Nguồn : Đài Vatican Việt ngữ
===============================================
https://xuanbichvietnam.wordpress.com/2 ... chua-kito/

User avatar
admin
Site Admin
Posts: 669
Joined: Sat Jun 27, 2020 8:13 pm

Re: Mọi sự do con người,cuối cùng con người là thứ màn đêm tăm tối,đạo Kito giáo mới đảo ngược được

Postby admin » Wed Sep 23, 2020 12:42 pm

Đức Giêsu Kitô, Đấng Trung Gian Hòa Giải Duy Nhất Và Chung Cuộc
Nhập Đề

Lời mời gọi thần linh đối với con người là đi vào trong mối hiệp thông hạnh phúc với Thiên Chúa ngay từ lúc con người được hiện hữu. Lời mời gọi này không phải là một dữ kiện tự nhiên, nhưng là một ân ban từ Thiên Chúa tình yêu. Cũng thế, khả năng đáp trả lời mời gọi đó nơi con người cũng là một ân huệ đến từ mầu nhiệm tam diện: Nhập Thể – Tử Nạn – Phục Sinh của Đức Kitô, bởi mầu nhiệm Đức Kitô chính là để “cho” con người – cứu độ loài người. Công trình cứu độ của Đức Kitô đã thực hiện được dành cho mọi người, không phân biệt, và không một ai tiên quyết bị loại ra ngoài khả năng nhận được ơn cứu độ, trừ khi chính người đó từ chối đón nhận.

Vai trò trung gian của Đức Kitô trong chương trình cứu độ có từ đời đời, và hiệu quả của ơn cứu độ thì chỉ có một, nhưng có những cách diễn đạt khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử cũng như tùy thuộc vào tính chất văn hóa mỗi thời đại. Đàng khác, ngôn ngữ thần học là ngôn ngữ mang tính ẩn dụ, vì thế nó khó có thể trình tả về những thực tại siêu nhiên thỏa mãn được mọi nhu cầu hiểu biết về những thực tại đó. Ngoài ra, chúng ta cũng cần khiêm nhường nhìn nhận giới hạn của khả năng miêu trình theo cách thức ngôn ngữ thông thường, bởi ơn cứu độ là một Mầu Nhiệm, dù Mầu Nhiệm đó được tỏ hiện trong thời gian qua biến cố Nhập Thể, trở nên người phàm và cư ngụ giữa loài người, chịu đau khổ, chịu chết và phục sinh.

Ngày hôm nay, không kể những xu hướng thần học quá duy thế tục và phò chính trị, ngoài những lối miêu trình tôn giáo nhằm mục đích cạnh tranh hoặc loại trừ, và vì trong một thế giới tràn ngập những mâu thuẫn và xung đột, thì cách diễn tả kế hoạch cứu độ xét như một “Chương Trình Hòa Giải” sẽ dễ dàng được mọi người chấp nhận và theo đuổi như một lý tưởng cao đẹp chung cho mọi bên liên quan: Thiên Chúa – con người, con người – con người, con người – môi trường. Hơn nữa, “thực ra, kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là kế hoạch hòa giải, những khái niệm khác, như chuộc lại, xá tội, đền tội, công chính hóa, v.v., chỉ là những hình thức biểu đạt những phương cách hay khía cạnh của công trình duy nhất ấy.”[1] Ngoài ra, trong nỗ lực trở về với Thiên Chúa, thánh Phaolô cũng đã khẩn khoản kêu gọi các tín hữu Côrintô: “Nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa” (2Cr 5,20). Và trong thế giới hôm nay, con người thường dễ chân nhận hơn một giáo lý về ơn cứu độ mang tính hòa giải như một sự tái lập mối quan hệ Thần – nhân, Siêu nhiên – tự nhiên, Tạo Hóa – thụ tạo được cụ thể hóa nơi Đức Kitô, Đấng là Thiên Chúa đã đến ở với con người hầu thực hiện một cuộc Hòa giải chung kết là tái qui tụ con cái Thiên Chúa thành một gia đình duy nhất có Người là Cha. Gia đình đó là một xã hội yêu thương huynh đệ trọn nghĩa cả về mặt siêu nhiên lẫn tự nhiên.

Tuy chương trình hòa giải là mầu nhiệm lớn lao, nhưng trong cái nhìn hiện sinh về một kế hoạch cứu độ được tỏ hiện trong thời gian, thì công cuộc hòa giải mà Đức Kitô đã thực hiện có thể được xét qua từng “chặng”, hầu có thể dễ dàng đến với sự nhận hiểu về từng khía cạnh một của biến cố Đức Kitô hay các mặt của Mầu Nhiệm Cứu Độ. Vì thế, nội dung bài viết này xin tạm được chia ra từng phần một cách tương đối như sau:

Nhập thể làm người – Đức Kitô hiện tỏ kế hoạch hòa giải
Đức Kitô Tử nạn – tột đỉnh của sứ vụ hòa giải
Đức Kitô phục sinh – hiệu quả của công cuộc hòa giải
Sự duy nhất và chung cuộc của Đấng Trung Gian Hòa Giải.
1. Nhập Thể Làm Người – Đức Kitô Hiện Tỏ Kế Hoạch Hòa Giải

Nhiệm cuộc cứu độ được khởi đầu từ lúc Tạo dựng, trải qua bao thăng trầm của lịch sử như một sự chuẩn bị qua Giao Ước cũ, cho đến giai đoạn thành toàn và viên mãn diễn ra trong Đức Kitô. Được cứu độ nghĩa là con người được sống trong tình thân và kết hợp vĩnh viễn với Thiên Chúa nhờ việc nhận biết, đón nhận và yêu mến Đức Kitô – Ngôi Lời của Thiên Chúa đã nhập thể và hiện thể.

Ngôi Lời vẫn hằng ở nơi cung lòng Cha (x. Ga 1,17-18) đã tự hạ và nhập thể làm người, đã trở nên con Đường đưa con người đến với Sự Thật và Sự Sống (x. Ga 14,6). Biến cố Nhập thể nói lên một thực tại lưỡng diện vừa đi xuống vừa đi lên: Thiên Chúa “đi xuống” với loài người nơi Đức Kitô, và nhờ Đức Kitô là con Đường, con người được “đi lên” với Thiên Chúa. Trung tâm và giá trị của hòa giải hệ tại ở “Tình Yêu tự hạ” này: Thiên Chúa đã hạ mình xuống chia sẻ bản tính yếu hèn và đau khổ của loài người để con người có thể tham dự đời sống thánh thiện và hạnh phúc vô biên với Thiên Chúa. Kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa là hòa giải chính Ngài với con người và với vạn vật, vì thế, Ngôi Lời của Ngài đã nhập thể, đã “nhân hóa” và đi vào trong lịch sử loài người. Cũng chính nhờ Con Thiên Chúa nhập thể mà con người mới được “thần hóa”, để cùng với Đức Kitô, con người được tham dự vào trong tiến trình kì diệu là “đi vào trong Thiên Chúa.” Đó cũng là ý nghĩa nhân học của công cuộc hòa giải mà Đức Kitô là Đấng thực hiện duy nhất và chung cuộc.

Để làm Trung gian Hòa giải, Đức Kitô đã phải trở nên như những gì con người là với mọi yếu đuối và bất trắc của kiếp nhân sinh, nhờ đó để trong tư cách là Đấng Cứu độ, Người đưa cuộc Hòa giải đi đến chung cuộc và hiệu lực viên mãn trong chính thân thể Người. Qua mối dây liên kết mầu nhiệm, Đức Kitô, trong tư cách là Ađam mới đã đón nhận toàn bộ thực tại mọi thời của lịch sử nhân loại để giao hòa và dẫn nhân loại vào trong tình yêu Ba Ngôi. Thật thế, con người chỉ có thể được giao hòa với Thiên Chúa khi và chỉ khi Đức Giêsu Kitô, Đấng là Thiên Chúa thật xuống với con người, tan hòa vào trong loài người, và cũng chỉ nhờ được giao hòa với Chúa mà con người mới trở nên “Người” hơn.

Như thế, Thiên Chúa đã nhập thể và “đi xuống” để giao hòa với loài người, đó là một mầu nhiệm vĩ đại không thể đạt thấu bằng suy lí. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng đã muốn nhờ Đức Kitô mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình (x.Cl 1,20) bằng sứ điệp và những hành động yêu thương mà Người đã tỏ hiện trong thời gian và không gian, bởi nếu không có tình yêu và lòng trắc ẩn chân thực, sẽ không thể có sự hòa giải đích thực. Chính vì tình yêu và lòng trắc ẩn mà Chúa Giêsu đã đến với mọi người, gặp gỡ từng số phận, chạnh lòng thương những ai bé nhỏ nghèo hèn, chữa lành những người bị quỉ ám và bị tật nguyền, cảm thông với những người yếu đuối và thứ tha tội lỗi cho họ.

Trong Ngôi Hai nhập thể, sự liên đới giữa Thiên Chúa và con người là bất khả phân li. Vì nhờ qua biến cố Nhập thể, con người mới có thể đạt đến cùng đích của mình là được kết hợp với Thiên Chúa bằng một tương quan sống động, liên ngã vị, có ý thức và hoàn toàn tự do. Hơn nữa, ý niệm về một Đấng Trung Gian Hòa Giải phổ quát, duy nhất tối cao và chung cuộc phải được phát nguyên từ sự tin nhận biến cố Nhập thể cũng như phải tựa nương vào nền tảng của một nền giáo lý chân thật và vững vàng tin nhận Đức Kitô là Ngôi Lời Thiên Chúa đã đến trong thế giới. Mục đích và ý nghĩa của biến cố Nhập thể là “vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta” (Kinh Tin Kính) theo chương trình yêu thương của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”(Ga 3,16). Vì giả như trong lịch sử nhân loại, có một nhân vật tên là Giêsu thuần túy thụ tạo nào đó xuất hiện, dù với những lời nói và hành động nổi đình nổi đám chăng nữa, thì hiệu quả và ảnh hưởng của hành động mà nhân vật đó đã làm vẫn không thể phổ quát và chung cuộc được, bởi nhân vật đó chỉ là con người, nghĩa là không thể vượt qua được giới hạn của không gian và thời gian cũng như những khiếm khuyết tất yếu của kiếp người.

Công cuộc hòa giải được cụ thể bằng sự liên đới mang chiều kích lịch sử nơi Đức Kitô nhập thể với dòng giống nhân loại, và “để xây dựng một xã hội huynh đệ giữa con người, con người tội lỗi, Ngài đã quyết định đi vào trong lịch sử loài người một cách mới mẻ và dứt khoát bằng cách sai Chúa Con mặc lấy xác phàm chúng ta, để nhờ Chúa Con, Ngài hòa giải thế gian với chính Ngài.”[2] Sự liên đới này đã làm sáng tỏ mầu nhiệm công bình của Thiên Chúa trong công cuộc hòa giải, bởi vì Đấng vô tội đã tự nguyện mang lấy thân phận tội nhân, Đấng hằng sống đã chấp nhận cái chết, để trong tư cách là Đấng Trung Gian Hòa Giải, Đức Kitô đã thâu kết nơi mình Người toàn thể nhân loại mọi thời để khi hiến thân làm Lễ Hi Sinh trên thập giá, chính Người đã thay cho nhân loại dâng lên Chúa Cha tình yêu vâng phục để giao hòa với Ngài.

2. Đức Kitô Tử Nạn – Tột Đỉnh Của Sứ Vụ Hòa Giải

Tình yêu mới là nguyên lý nền tảng của cuộc hòa giải đích thực, vì tình yêu chính là đối thoại khiêm nhường và trao ban trọn vẹn, và khổ hình thập giá là “hành động” (acte) tột đỉnh của tình yêu đó. Sẽ không bao giờ có hòa giải đích thực nếu không có sự đối thoại, và đối thoại sẽ gặp phải bế tắc nếu không có hành động trao ban. Đức Kitô, mặc dù phải chịu đau khổ mới thực hiện được trọn vẹn cuộc hòa giải, nhưng đau khổ đó là vì chọn lựa yêu thương (x. Rm 8,32) hơn là một đền bù mang tính pháp lý, nhằm trao tặng món quà quí báu là chính sự sống của Người. Chỉ tình yêu mới có lời giải đáp cho vấn nạn về cái gọi là “nghịch lý của Thập giá”, và cũng chỉ nhờ tình yêu mà đau khổ mới thoát khỏi được cái mớ bòng bong vô nghĩa của nó. Cũng chính tình yêu mới có thể và đã biến thập giá trở nên Thánh giá, nghĩa là thập giá từ đây không còn là công cụ của trừng phạt và giết chết, nhưng đã trở thành khí cụ hòa giải và ban sự sống. Khi Con Thiên Chúa đã tự hiến và chịu treo trên Thập giá thì khi đó tình yêu đã thắng sự ác, hòa giải đã thắng xung đột, tha thứ đã thắng tội lỗi; cũng từ đây, Thánh giá trở nên biểu tượng (symbol) của hòa giải, của lòng nhân đạo và của sự cứu vớt.

Mầu nhiệm hòa giải gắn liền với mầu nhiệm Thập giá, vì “nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét” (Ep 2,16). Xưa trên đỉnh đồi Canvê, cây Thập giá đã được trồng lên để hoa quả của nó đem lại sự trường sinh hòng phá tan sự chết do trái cấm gây nên. Vì nếu cây trái cấm ở vườn địa đàng là nguyên nhân của chia rẽ và hậu quả của nó là đau khổ và sự chết, thì cây Thập giá ở đồi Canvê trở thành tâm điểm nối kết và hòa giải hầu dẫn đến sự sống vĩnh cửu. Sự giao hòa giữa Thiên Chúa với con người và con người với nhau, đó chính là ơn cứu độ mà Thiên Chúa muốn thực hiện trong và nhờ Đức Giêsu Kitô. Trước khi được hòa giải, con người là “kẻ thù nghịch với Thiên Chúa” (Rm 5,10), nhưng nhờ cái chết của Đức Kitô, sự hòa giải giữa Thiên Chúa với con người đã được thực hiện, bởi chính cái chết này đã làm thay đổi tất cả một cách mầu nhiệm.

Đỉnh cao và uy thế hòa giải của Thập giá vừa mang tính mầu nhiệm nhưng cũng rất thực tế hiện sinh, ở chỗ ý nghĩa và hiệu quả của Thập giá vừa mang tính siêu nhiên nhưng cũng rất tự nhiên. Bởi chính vì đã chịu chết như một Đấng Công Chính (x. Cv 3,14), Đức Kitô không những đã làm cho khổ hình thập giá được loại bỏ mà còn thánh hóa công cụ của tội ác đó, biến nó thành khí cụ của tình yêu nhằm công chính hóa con người và thế giới. Dù tội lỗi, hận thù và chia rẽ vẫn còn tồn tại trong đời sống hiện sinh, nhưng trong kế hoạch tình yêu, Thập giá đã trở nên nơi mà cuộc hòa giải diễn ra với tầm mức tột đỉnh và chung cuộc (x. Ep 2,16tt). Tất cả hận thù, chia rẽ và mọi hình thức của tội đã được Đức Kitô mang vào thân thể mà đưa lên cây Thập giá, để chính khi Ngài bị đóng đinh thì mọi tội lỗi cũng bị giết chết, con người được hòa giải với Thiên Chúa và làm hòa với nhau (x. 1Pr 2,24). Đây là điều vô cùng mới mẻ, bởi Thiên Chúa là Đấng vô cùng thánh thiện đã không chờ đợi tội nhân đến để hòa giải với mình, nhưng ngược lại, chính Ngài đến với họ trước để họ được hòa giải với Ngài.

Vị thế Trung gian của Đức Kitô là làm cho công cuộc hòa giải được thành toàn và “chỉ một lần là đủ” (Dt 10,10) theo ý định ngàn đời của Thiên Chúa Cha, để từ nay không còn hận thù và chia rẽ nữa, vì “Thiên Chúa đã muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình; nhờ Máu Người đổ ra trên Thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20). Cuộc tử nạn Thập giá của Đức Kitô đã hòa giải vĩnh viễn hai đòi hỏi trái ngược là sự công bình và tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Đức Kitô đã tự nguyện chấp nhận cái chết để thực hiện cuộc hòa giải, trước hết là một mầu nhiệm vĩ đại, nhưng cuộc tử nạn đó cũng giải thích cho con người thấy tại sao công lý của Thiên Chúa phải được thực hiện cách nghiêm túc, và đồng thời cũng biểu lộ cho con người thấy tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho họ vô biên biết chừng nào. Cuộc hòa giải không phải được thực hiện một cách dễ dãi như bằng một cái “búng ngón tay” của Thiên Chúa quyền năng vô biên, nhưng là bằng cả chương trình đời đời và chương trình đó được cụ thể hóa nơi Đức Giêsu Kitô. Vì tội bất trung và bất hòa mà loài người phải đau khổ và phải chết đời đời, nhưng Đức Kitô đã tự nguyện chấp nhận đau khổ và cả cái chết, để con người được hòa giải với Sự Sống và được sống hạnh phúc. Chính vì tình yêu mà cuộc hòa giải mới được thực hiện (x. Ga 15,13), và cũng chính nhờ Đấng Hằng Sống đã chấp nhận cái chết mà nhân loại vốn phải chết mới được sống!

Sự hòa giải được thực hiện qua biến cố Thập giá của Đức Kitô là điều đã diễn ra trong quá khứ, nhưng hiệu quả của nó là ân sủng bao trùm hết mọi chiều kích thời gian và không gian. Tuy nhiên, vẫn có sự đòi hỏi đối với người đón nhận ơn hòa giải một cách nhưng không đó phải có sự biến đổi và chủ động theo logic của ân sủng được trao ban, nghĩa là ân sủng hòa giải chỉ giúp con người khám phá ra tình yêu Thiên Chúa khi con người biết đón nhận và đáp trả trong và bằng tình yêu. Sự đáp trả ơn hòa giải này vừa là đòi hỏi của tình yêu lại vừa có tính công bằng, vừa bộc lộ ý thức về ơn hòa giải mà mình đã lãnh nhận lại vừa phải nỗ lực sống tin thần hòa giải như là biểu thị hoa trái của sự hòa giải đó.

Trong ý nghĩa của sự hòa giải, Thập giá đã là và mãi là giao điểm của lịch sử thế giới. Khi thánh Phaolô nói về Vị Thiên Chúa chịu đóng đinh là điều mà người Dothái coi là ô nhục (x. 1Cr 1,23) – ô nhục đối với những người vì sự cuồng tín và thù ghét đã chống lại Đức Giêsu. Nhưng chính nhờ cách nói như vậy mà thánh Phaolô đã khẳng định tính phổ quát của ơn hòa giải và theo đó, cuộc hòa giải đã vượt qua biên giới của dân tộc Dothái để đến với mọi nơi mọi thời. Ngày hôm nay, vẫn còn đó những người cư xử hoàn toàn theo lối những người Dothái xưa, khi họ chối từ Đức Kitô, họ tự tạo cho mình một vị Thiên Chúa theo những phạm trù cá nhân, tự xác định những điều mà họ tin và theo những hình ảnh do họ tính toán và xác lập. Đó là hình ảnh của một vị Thiên Chúa thống trị và đắc thắng, luôn ở trên cao và chỉ trừng phạt, vị Thiên Chúa mà trong nhãn quan của họ không bao giờ có thể đi đến hòa giải bằng và qua Thập giá.[3]

Nhưng, điều mâu thuẫn mà Thập giá gợi lên là, tại sao một vị Thiên Chúa lại bị đóng đinh? Đấng là Thiên Chúa đầy quyền năng, tại sao lại là chính Đấng chấp nhận “sự nghiệp” của mình sụp đổ tan tành trên Thập giá? Những vấn nạn này vẫn sẽ trở nên như một sự tưởng tượng quá sức, thậm chí một sự điên rồ (1Cr 1,18) đối với nhiều người. Tuy nhiên, nếu trầm tĩnh mà suy, cùng với sự mở ra chiêm ngắm và đón nhận bằng cả tâm hồn khiêm cung, ta có thể nhận ra rằng chính sự yếu đuối – cái “minimum” mà Thiên Chúa đã trở nên trong thế giới, trong sự phù hoa giả tạo của nhân loại và cả trong chính Giáo Hội, mới là sự tỏ lộ sức mạnh – cái “maximum” của tình yêu hòa giải mà Thiên Chúa dành cho con người, đến độ mọi miệng lưỡi sẽ phải lặng thinh, mọi trí hiểu nhận ra sự bất lực của mình và mọi tâm hồn sẽ chỉ chiêm ngắm một mình Thiên Chúa mà thôi!

Cái chết trên Thập giá của Đức Kitô là đỉnh cao của sứ vụ hòa giải, bởi Thập giá tuy là “thảm họa” đối với cuộc đời dương thế của Đức Kitô, nhưng lại chính là thực tại mang lại sự sống sâu xa nhất cho toàn nhân loại mọi thời. Nhờ sự vâng phục, Đức Kitô đã có thể đảm nhận cách thành toàn sự tha hóa tuyệt đối mà chính Người phải loại trừ nó bằng cách đón nhận nó và chuyển hóa tác động triệt tiêu của sự chết trở thành sự kết hợp thân mật tuyệt đối và sức sống vô song của ơn hòa giải. Tình yêu hòa giải được tỏ hiện và độc sáng, khi giữa bóng đêm dày đặc của khổ hình thập giá, Đức Kitô đã nói với kẻ cùng chịu đóng đinh và là một tên cướp biết hối hận về những việc mình đã làm: “Ngay hôm nay, anh sẽ ở trên Thiên Đàng với tôi” (Lc 23,43). Đây quả là một “cuộc cách mạng” mà Đức Kitô đã cống hiến cho lịch sử loài người, và “chính ở đây mà vận hành của Nhập thể cũng như của Thập giá mới tỏ lội hướng đi thực sự của nó.”[4] Và cũng nơi đây mới là sức mạnh vô song của cuộc hòa giải bằng Thứ Tha!

Trên Thập giá, khi phó thác cho tình yêu của Chúa Cha (x. Lc 23,46), Đức Giêsu đã hiến mình bằng lòng phó thác ấy qua sự vâng phục triệt để của tình yêu. Chính nhờ thế, Thập giá chẳng còn là nỗi kinh hoàng không hồi kết, nhưng là ngõ vào bình an và ân phúc của sự hòa giải, là lối ngả của một tình yêu lớn và mạnh hơn sự chết đến từ vị Thiên Chúa không ngừng thi ân. Hơn thế nữa, Hi Tế Thập Giá chẳng phải là cái án pháp lý phải trả cho Chúa Cha vì sự xúc phạm của con người, nhưng “đúng hơn, Hi Tế của Đức Giêsu là hành vi cá vị và nền tảng nhất của Ngôi Lời”[5] dâng lên Chúa Cha vì yêu thương nhân loại. Đó là sự cao cả của sứ mạng hòa giải, là vực thẳm của sự hư mất do tội lỗi loài người, là sức nóng của ngọn lửa vâng phục và là chiều sâu của tình yêu trong Trái Tim Đức Kitô – Trái Tim hoàn toàn vắt kiệt và trở nên bất lực trước Thiên Chúa. Nhờ đó, Người đã có thể thay cho nhân loại kêu lên với vị Thiên Chúa là Tình yêu lời “Abba – Cha ơi!” và phó thác kiếp nhân sinh cùng quẫn trong tay Cha.

3. Đức Kitô Phục Sinh – Hiệu Quả Của Công Cuộc Hòa Giải

Trong ý nghĩa hiện sinh, sự phục sinh của Đức Kitô đã trả lời cho vấn nạn về sự sống sau cái chết. Nhờ biến cố phục sinh, từ nay mâu thuẫn ngàn đời về sống – chết tìm được sự hòa giải, bởi vì chỉ duy một mình Thiên Chúa có thể tạo dựng sự sống và cũng chỉ mình Ngài mới có thể trả lại sự sống về cho thân xác sau cái chết, vì Ngài là Đấng Hằng Sống. Sức mạnh hòa giải của sự phục sinh là sức mạnh của sự sống trên cái chết, một sự sống mới và không còn phụ thuộc vào sự chết nữa. Sự phục sinh của Đức Kitô đã trao ban cho con người một “trải nghiệm” về sức mạnh của sự sống, sức mạnh đó có thể làm cho những người đã chết vì những xúc phạm của mình được phục hồi sự sống nhờ sự sống lại của Đức Kitô.

Hoa trái của công cuộc hòa giải Đức Kitô đã thực hiện chẳng là gì khác nhưng là chính sự sống trong Đức Kitô. Sự sống mới này có sức mạnh loại bỏ mọi mầm mống của sự chết và vượt thắng mọi biểu hiện ngự trị của nó trong mỗi người chúng ta. Có thể nói, trước khi biến cố phục sinh của Đức Kitô diễn ra, con người đang chìm trong bóng đêm sự chết, nhưng sau khi biến cố này diễn ra thì một nguồn sống mới đã đến với mọi người, và sức mạnh phục sinh đã hòa giải sự sống với cái chết, nghĩa là bây giờ “không còn phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Từ biến cố phục sinh, sự hòa giải đã đi đến hồi kết vì sự chết đã bị đập tan, những gì xưa cũ đã biến mất, những gì mới mẻ đang xuất hiện (x. 2Cr 5,17).

Chúng ta tin nhận rằng, Đức Kitô đã chết để giao hòa chúng ta với Thiên Chúa ngay khi chúng ta còn là tội nhân, và đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta (x. Rm 5,8). Thế nhưng, trong khi chiêm ngắm Thập giá để cảm nhận ơn giao hòa thì cùng một trật, chúng ta phải hướng đến phục sinh mới có thể hiểu nổi cái “giá” phải trả của Thập giá. Bởi nếu không có phục sinh thì Thập giá chỉ là con đường dẫn đến ngõ cụt, và lộ trình hòa giải đã bị phá sản. Nếu không có phục sinh thì chia rẽ và tội ác vẫn còn nguyên sức mạnh phá hoại ghê gớm của nó, và con người vẫn chưa hết chơi vơi giữa cuộc đời dằng dặc vô vọng. Logic của ơn cứu chuộc phải dẫn đến phục sinh, và công cuộc hòa giải chỉ có thể đáng tin khi kết quả của nó phải là sự sống mới trong bình an và ân sủng vĩnh cửu nơi Thiên Chúa.

4. Sự Duy Nhất Và Chung Cuộc Của Đấng Trung Gian Hòa Giải

Theo cách diễn đạt của một số nhà thần học hiện đại, vai trò Trung gian của Đức Kitô được tiến hành theo hai hướng: hướng lên và hướng xuống. Một đàng, Người dâng lên Chúa Cha tâm tình thờ phượng và yêu mến con thảo cùng với lời cầu nguyện và lễ vật thay cho loài người; đàng khác, Người thông ban những ân huệ và phúc lành của Thiên Chúa xuống cho con người. Chỉ nhờ Người, với Người và trong Người mà con người mới đến được với Thiên Chúa Tình Yêu và kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa mới có thể hiểu được đối với con người.

Đức Giêsu là Đấng Trung gian Hòa giải giữa Thiên Chúa và loài người trong tư cách là một Ngôi vị Thiên Chúa nhập thể. Nhân tính của Người, nhờ Ngôi hiệp được nâng lên mức độ hoàn hảo có một không hai để xứng đáng với Ngôi vị Thiên Chúa và trở nên dụng cụ trung gian duy nhất và hữu hiệu hoàn hảo. Ngài đóng vai trò trung gian trong vị thế một con người – Thiên Chúa làm người. Vì thế, thánh Phaolô đã khẳng định rằng, “chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu” (1Tm 2,5). Đó cũng là điều dẫn ta tiếp cận với sự nhận hiểu phần nào về “lí do” của Ngôi Lời khi nhập thể trở nên người phàm. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là chỉ một mình nhân tính của Đức Giêsu đứng ra làm trung gian hòa giải, dù nhân tính này hoàn toàn vô tội. Sở dĩ những hành động nhân loại của Đức Kitô có giá trị và vai trò trung gian, bởi vì đó cũng chính là những hành động của Thiên Chúa, và do đó, những hành động ấy có giá trị hòa giải phổ quát và chung cuộc giữa Thiên Chúa và con người qua mọi thế hệ.

Hòa giải là kế hoạch ngàn đời của Thiên Chúa, nhưng đến thời sau hết, Thiên Chúa đã cho Con Một xuống “nói” với loài người về Ngài (x. Dt 1,1-2). Đức Giêsu Kitô – Ngôi Lời của Thiên Chúa đã xuống thế để “giải thích” về Thiên Chúa cho con người qua việc tự hiến trọn vẹn bằng chính hữu thể và qua mọi hành động trần thế của Người. Lời Đức Giêsu dạy, việc Đức Giêsu làm phải là chính con người Ngài, bởi “trọn vẹn con người Ngài là Con, là Lời, là Sứ Vụ; hành vi của Ngài cũng là sự diễn tả chính hữu thể thâm sâu của Ngài, làm một với con người Ngài.”[6] Và phải như thế Ngài mới là Đấng Trung Gian Hòa Giải duy nhất và chung cuộc, và cũng chính nhờ nét độc sáng qua sự duy nhất giữa hành động và hữu thể, giữa tỏ hiện và bản thể, Đức Kitô mới đủ “tư cách” đại diện loài người trước mặt Thiên Chúa Cha. Chỉ có Ngài mới là Đấng Trung Gian chung cuộc và duy nhất, bởi nơi Ngài và chỉ nơi Ngài sự đồng nhất giữa Hữu Thể – Sống – Phục Vụ mới hiện thực với trọn vẹn ý nghĩa của nó. Toàn bộ hiện hữu và hành động của Ngài là để “cho” – sống cho, hơn nữa bởi Ngài làm một (unité – hiệp nhất) với Thiên Chúa Cha nên Ngài là trung gian hòa giải duy nhất mẫu mực, trọn nghĩa và chung quyết của lịch sử; chỉ có Ngài mới là Con Người xứng đáng đại diện cho loài người để đối thoại với Thiên Chúa về mọi chiều kích nhân sinh mọi nơi và mọi thời. Chính nhờ Người, với Người và trong Người, con người mới dám đối diện với tương lai của chính mình trong viễn cảnh cứu độ, vì Người “là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6).

Đức Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất ban cho chúng ta sự sống Thiên Chúa Ba Ngôi vì Người là Đấng làm chứng về Sự Thật và là chính Sự Thật; và chỉ Sự Thật mới giải thoát được con người (x. Ga 8,32). Nhờ sự “biết” Đức Kitô mà con người mới có thể đạt tới sự “hiểu” về Chúa Cha. Khi mạc khải Người là con Đường, Đức Kitô đã minh xác chức vụ Trung Gian của Người và diễn tả trọn vẹn vai trò hòa giải nhằm đưa con người vào trong mối tương quan liên ngã vị với Thiên Chúa, trong Tình Yêu và Ý Nghĩa đích thực. Đức Kitô là Con Đường vừa nói lên một thực tại vừa mạc khải một chức vụ – chức vụ đưa con người tới Thiên Chúa, và chỉ nơi Người mới là con Đường đích thực và duy nhất dẫn loài người đến với cùng đích của mình là Sự Thật và Sự Sống.

Sứ vụ trung gian hòa giải của Đức Kitô được thực hiện giữa lịch sử loài người và trong Thánh Linh, vì thế, hành động trung gian hòa giải của Ngài vừa mang tính thần linh nhưng cũng rất hiện sinh cả trong ý nghĩa và hiệu quả của nó. Đó là sự hòa giải mang tính “thâu hồi vạn vật”, bởi khi con người hoàn toàn được hòa giải với Thiên Chúa, con người cũng được hòa giải với nhau và với vũ trụ (x. Cl 1,2). Đức Kitô vừa là đại diện loài người trước Thiên Chúa vừa là Thiên Chúa hiện tỏ cho loài người; Đấng loan báo ơn cứu độ cũng chính là Đấng ban ơn cứu độ; Đấng rao truyền Chân Lí và Sự Sống cũng chính là Sự Thật và là Sự Sống; Đấng dẫn đường cũng chính là Con Đường; Đấng là con người thật nhưng cũng chính là Đấng làm một với Chúa Cha và hiệp nhất với Chúa Thánh Thần muôn đời. Việc tin nhận và phó thác cho Đức Kitô là Đấng Trung Gian Hòa Giải duy nhất đúng nghĩa, viên mãn và chung cuộc là xác đáng, bởi Người là đường đi và là điểm đến, là Đấng hữu hình tỏ lộ Thiên Chúa vô hình; Người đón nhận thụ tạo và trở nên hữu hạn để mạc khải Đấng Vô Biên; Người đã làm người để dẫn con người tới Thiên Chúa. Và theo nghĩa đó, Đức Kitô trong mầu nhiệm được tỏ hiện, Người chính là “chiếc cầu” duy nhất nối khoảng cách xa vời vợi giữa Tạo Hóa với thụ tạo, giữa siêu nhiên với tự nhiên, giữa Thiên Chúa với con người.

Hơn nữa, sở dĩ Đức Kitô là Đấng Trung Gian Hòa Giải duy nhất và chung cuộc, bởi Người vừa là Tư tế vừa là Hy lễ, vừa là Thiên Chúa vừa là Đền thờ: Người là Tư tế nhờ đó chúng ta đuợc giao hòa, là Hy lễ qua đó chúng ta được giao hòa, là Đền thờ trong đó chúng ta được giao hòa, là Thiên Chúa nơi Ngài chúng ta được lãnh ơn giao hòa. Chỉ một mình Người là Tư tế tối cao, là Hy lễ duy nhất và là Đền thờ đích thực của Thiên Chúa, và nhờ đó con người mới được thánh hóa để trở thành một dân tộc duy nhất của Vương Quốc và được gọi Thiên Chúa là Cha – Abba!

Theo tư tưởng của thánh Phaolô, hòa giải (reconcile/reconciliation) là một hành động và là một tiến trình biến đổi hoàn toàn làm cho con người trở nên thụ tạo mới (x. 2Cr 5,17-18). Điểm độc đáo là sự hòa giải đến từ bên trên – từ Thiên Chúa là Đấng vô cùng hoàn thiện và tuyệt đối trung thành, trong khi con người thường bất trung và dễ đổi thay (x. 2Tm 2,13); và điểm mấu chốt của hòa giải là làm cho con người ngày càng trở nên giống Đức Kitô hơn để được tham dự vào tình yêu của Ba Ngôi. Chỉ nơi Đức Kitô, sự hòa giải giữa hai đòi hỏi trái ngược nhau của sự công bằng và tình yêu Thiên Chúa mới được thực hiện. Sự hòa giải đó diễn ra như một tiến trình thay đổi để trở nên giống Chúa Kitô từ trong mức độ hiện sinh của thân phận con người qua sự biến đổi tận căn nhờ và trong Đức Giêsu Kitô (x. Rm 5,10-11). Logic của mầu nhiệm Hòa giải là biến tội nhân thành người công chính và trao ban thứ tha cho kẻ thù địch, để từ đây mọi tương quan trở nên tương quan trong bình an và ân sủng trong mức độ hiện sinh của nó. Vì thế, sự hòa giải đã được diễn ra trong mức độ một sự chuyển đổi nền tảng làm cho con người được trở nên những người công chính. Bởi sự sống và ơn thánh mà Thiên Chúa ban cho các kẻ tin nhờ ơn cứu chuộc mà Đức Kitô đã thực hiện rõ ràng là một ân huệ phi thường, được cụ thể hóa qua sự chuyển đổi trong thân phận con người yếu đuối và hữu hạn của chúng ta.

Nơi Đức Kitô, con người được hòa giải với Thiên Chúa và với nhau bằng việc kết hợp với thần tính của Ngôi Lời, được kêu mời từ bỏ nếp sống bất trung, giả dối, lầm lạc, chia rẽ… qua một tiến trình thanh luyện lâu dài nhưng với những phương thế mới mẻ và hữu hiệu qua Lời và các Bí tích của Người. Đức Kitô, Đấng thâu hồi (récapitulation) vạn vật và đưa về Vương Quốc, bởi Người là Đấng phát xuất từ Vương Quốc. Lý do của Nhập thể – Thụ nạn – Phục sinh là làm cho vũ trụ đạt đến tầm mức viên mãn trong chính nhiệm thân của Ngôi Lời, và để thâu hồi vạn vật dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô (x. Ep 1,10). Từ đó, sứ mạng hòa giải của Đức Kitô đã đạt đến mức thành toàn và chung quyết, bởi Đấng Trung Gian Hòa Giải cũng chính là Cùng Đích mà cuộc hòa giải đạt đến. Vì thế từ nay, Kitô giáo trong ý nghĩa lịch sử thông thường, xét như một định chế tôn giáo đặc thù với một tính cách đặc định và thống nhất – hiệp nhất, hướng lên và tôn thờ Thiên Chúa một cách trung thực và thuần khiết nhất, đã sửa lại và loại bỏ những khiếm khuyết vốn tồn tại trong các định chế tôn giáo trước đó. Biến cố Đức Kitô như một sự thức tỉnh triệt để và tận căn về cung cách thờ phượng Thiên Chúa (hướng lên) và cách thức liên đới với tha nhân (hướng ngang), để từ trung tâm điểm là Đức Kitô, mọi tương quan thần linh và nhân loại được qui chiếu về nhằm đón nhận mẫu thức hoàn hảo nhất cho mọi vấn đề.

Kết luận: Giáo Hội Tiếp Tục Sứ Mạng Hòa Giải Của Đức Kitô

Toàn bộ công trình hòa giải đã được Đức Kitô thực hiện thành toàn và chung quyết, nhưng công trình ấy vẫn còn tiếp tục cho đến ngày quang lâm. Thánh Phaolô đã minh xác hoạt động tông đồ như là “sứ vụ hòa giải” đã được ủy thác cho Chúa Kitô, và các Tông đồ là những sứ giả của lời hòa giải đó (x. 2Cr 5, 18-19). Rao truyền về một Tin Mừng hòa giải và bình an là sứ mệnh không thể thoái thác của ơn gọi Tông đồ, và trên hết, người Tông đồ luôn luôn phải là người kiến tạo hòa bình trong mọi tình huống (x. 2Cr 6,4-13). Ở một mức độ nào đó, các Kitô hữu là những người đã được nhận Ơn Hòa Giải và được sống cuộc sống mới trong Thần Khí, vì thế họ luôn luôn được mời gọi khám phá ra những giá trị của sự sống mới và dành hết cuộc nhân sinh của mình để thi hành tác vụ hòa giải bằng đời sống chứng tá cho Tin Mừng tình yêu trước tất cả mọi người.

Giáo Hội là cộng đoàn mang trong mình căn tính và sứ vụ hòa giải, là “Giáo Hội Hòa Giải” đã được Đấng Trung Gian Hòa Giải thiết lập. Và để trung thành với sứ vụ ấy, Giáo Hội phải luôn luôn cống hiến cho nhân loại, với một nỗ lực không mệt mỏi, về tính cách siêu việt ngang qua đời sống đối thoại bằng hiệp thông, phục vụ và yêu thương trong chính thế giới này.[7] Bởi đức Kitô là “nơi” diễn ra sự hòa giải và là chính sự hòa giải, đến lượt mình, Giáo Hội không là một giáo phái nhưng là “nhiệm thân” và là “Bí tích Hòa giải”[8] của Đức Kitô trong bản chất và đời sống, sẵn sàng mở ra hòa giải với mọi thực tại trần gian, để qua đó trao ban đức tin và niềm hi vọng đích thực cho mọi người. Hơn bao giờ hết, ngày hôm nay, giữa một thế giới đầy dẫy những bất công và gian dối, những vô cảm và ích kỷ, những thù hận và chiến tranh, thì Giáo Hội phải là điểm tựa đầy tin tưởng cho những người bị loại trừ, bị bỏ rơi, bị oan ức…; và mọi Kitô hữu phải là những người hết mình sống phục vụ cho Công Lý và Tình Yêu.

Vinh Thanh, tháng 05 – 2011

Fx. Hồng Ân

Chú thích:

[1] Filipé Goméz, SJ., Kitô Học, quyển II, Antôn & Đuốc Sáng xuất bản, tr. 409-410.

[2] Vat. II, Sắc lệnh Truyền giáo, 3.

[3] X. Karl Rahner, Betrachtungen zum ignatianischen Exerzitienbuch, Kösel-Verlag, München, 1965, Giuse Bùi Quang Minh, S.J., chuyển dịch, tr. 235-244.

[4] Jos. Ratzinger – ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI, Đức Tin Kitô Giáo Hôm Qua Và Hôm Nay, bản dịch Việt ngữ của Lm. Atha. Nguyễn Quốc Lâm và Nguyễn Hồng Lam, Nxb. Tôn Giáo, 2000, tr. 304.

[5] Karl Rahner, op. cit.

[6] Jos. Ratzinger – ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI, op. cit., tr. 238.

[7] X. Cđ. Vat. II, MV 42, 76; GH 8; TG 11; …

[8] X. Mt 28,19-20; Mc 16,15-16; Ga 20,22-23.

===================================================
https://camtruong.wordpress.com/2011/07 ... E1%BB%99c/


Return to “AWARENESS(MAN LIKE YOU, MAN IS AWARENESS)”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 8 guests