Quan hệ nhân quả trong khoa học

Moderator: long

User avatar
long
Posts: 429
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Quan hệ nhân quả trong khoa học

Postby long » Thu Jan 03, 2019 12:26 am

Khi nói đến quan hệ nhân quả có lẽ ít ai tưởng tượng được rằng đó là một vấn đề rất phức tạp. Phức tạp là vì nhiều lý do. Một là, trên bình diện thực tại, cần phải xem nó thuộc về phạm vi nào. Thuộc về thế giới tự nhiên của sự vật, của đồ vật, hay là về thế giới nhân vi của con người, hay là về một thế giới tưởng tượng hoặc một thế giới siêu việt nào đó. Hai là, trên bình diện tri thức, lại phải xem đó là do ta cảm nghiệm được trong đời sống thường nhật, hay là do ta đo lường và xác định một cách thực nghiệm trong hoạt động khoa học, hoặc là do ta mơ ước, suy luận trong các lĩnh vực tôn giáo và siêu hình học. Ba là, chính trong bình điền khoa học, lại cũng phải xem đó là nguyên lý nhân quả, hay là định luật nhân quả.

Vì thế, nếu không phân biệt được ba bình diện đó, không phân biệt được các nẻo đường của các bình diện đó, mà chỉ nói chung chung, nói bâng quơ về nhân quả, thì cách đặt vấn đề đã thiếu phân minh, làm sao có thể tìm ra đúng nguyên nhân của sự việc, làm sao có thể tránh được những câu giải đáp hồ đồ, vô bằng, lẫn lộn tất cả. Rồi nếu lại căn cứ vào đó mà hoạt động, thì hoạt động đó sẽ khó tránh được phiêu lưu, vô định. Cũng như bác sĩ mà chẩn đoán sai căn nguyên bệnh tật, thì thuốc chữa đã không thích hợp, lại còn có thể nguy hại nữa. Ở đây tôi không có ý bàn về tất cả các nẻo đường khác nhau đó. Cảm nghiệm thì có tính cách cá nhân, chủ cjuan, khó mà truyền thông cho người khác được. Tôn giáo thì vừa căn cứ vào cảm nghiệm và quan niệm về nhân sinh, tuy có thể truyền thông ít nhiều, nhưng lại vừa tuỳ thuộc vào đường lối suy luận và quan niệm khởi đầu của riêng từng tông phái. Ở đây tôi chỉ có ý bàn về phương pháp khoa học, vì lẽ rằng tính cách thực nghiệm của nó chủ trương dùng minh chứng và kiểm chứng, làm cho ai nấy đều vừa có thể chắc chắn về điều mình biết, lại vừa có thể đồng ý với người khác về những sự kiện đo lường được và xác định được.



Ngoài ra tôi lại còn hạn hẹp thêm nữa vào cái mà người ta thường gọi một cách hàm hồ là "luật nhân quả". Vì nó hàm hồ từ chữ "luật" cho đến quan hệ giữa "nhân" và "quả”. Có phân biệt được phân minh, thì mới hiểu được xác đáng là mình nói về cái gì, và nói lên những gì. Sau cùng tôi sẽ lấy những cái sở đắc đem áp dụng vào việc nghiên cứu con người.

Hai thứ luật

Triết học Hi Lạp thời Thượng cổ đã phân biệt ra trong trời đất có hai loại sự vật: Một là loại tự nhiên, ta không làm ra nó, ta thấy nó có sẵn như thế, không biết nó từ đâu ra và có mục đích gì, hai là loại nhân vi, hay là nhân tạo, do con người ta làm ra, theo như mục đích, dự định và hy vọng của mình. Cho nên khi nói đến các luật thì người ta cũng phải phân biệt ra hai thứ luật khác nhau: luật tự nhiên và luật nhân vi.

Luật tự nhiên

Luật tự nhiên là luật điều hành các hiện tượng trong trời đất, ta khám phá ra nó, ta thấy nó tự nhiên có như thế, như cái lý đương nhiên, không tuỳ thuộc vào ý muốn, quyết định hay mơ ước của con người, cho nên cả những người có quyền thế, dù có thể bắt ép được người yếu thế làm thế nọ thế kia, cũng không thay đổi được luật tự nhiên.

Tìm ra các luật tự nhiên tức là mô tả được sự vận động của vạn vật trong trời đất. Người ta thường căn cứ vào kinh nghiệm đã có trong quá khứ để nhận định ra như thế, và để tiên đoán về tương lai, rồi tuỳ theo đó mà trù tính và hành động. Tri thức khoa học khác cái hiểu biết thông thường ở chỗ là làm công việc nhận định đó một cách có phương pháp và có phép kiểm chứng hẳn hoi.

Người ta tựa vào những điều sở đắc của khoa học mà sáng chế ra kỹ thuật, để có thể can thiệp một cách hữu hiệu vào thiên nhiên, tự nó vốn vô hình đối với các dự định, mơ ước của con người. Ta không đổi được các luật tự nhiên, nhưng cái thẩn tình của kỹ thuật là ở chỗ ta có thể khôn khéo áp dụng định luật này để vô hiệu hoá hiệu quả của định luật kia, và giao thoa các định luật để thực hiện những dự định lạ lùng mà nếu để tự nhiên thì không bao giờ thành: Thực vậy, nếu trong truyện kiếm hiệp người xưa mơ màng đến phép độn thổ, phép phi hành, phép đằng vân giá vũ, thì ngày nay chúng ta đã có tầu ngầm để lặn dưới nước, có máy bay để bay trên trời, có xe hơi, xe lửa để rút ngắn con đường thiên lý, có điện thoại, điện tín, để đàm đạo với người ở xa.

Vì khoa học có uy tín như thế, cho nên có nhiều người, tuy là nói về những phạm vi ngoài khoa học như tôn giáo, chính trị, luân lý, nhưng cũng lên tiếng phân phô rằng lập trường của mình là dựa vào kinh nghiệm, là hợp với khoa học, thậm chí còn là khoa học đích thực nữa.

Tóm lại, ở trong phạm vi các luật tự nhiên này, người ta chỉ mô tả thôi, chứ không đặt vấn đề về nguồn gốc, xem ai đã thiết lập ra định luật như thế, xem nó có bó buộc phải làm thế này hay phải làm thế kia. Mà chính kỹ thuật, thần tình như thế, cũng không có tính cách bó buộc tuyệt đối có chăng thì chỉ bó buộc với điều kiện: Nếu muốn làm được cái này thì phải làm thế kia...

Luật nhân vi

Luật nhân vi là luật do con người làm ra, do người ta quyết định, chỉ định, ấn định. Nó không có tác dụng gì đến sự vận động của tự nhiên của trời đất. Nó có mục đích là định hình cho hành vi của con người trong khuôn khổ luân thường đạo lý trong cuộc sống chung trong xã hội. Nó nhằm về tương lai. Vì thế nó không mô tả vạn vật trong trời đất, cũng không mô tả hành vi của con người trong quá khứ như trong khoa xã hội học nhưng nó là lệnh truyền, nó tạo ra khuôn phép cho người ta phải theo.

Luật nhân vi có mấy đặc tính sau đây:

Một là: Vì không phải tự nhiên như thế, cho nên có thể đặt câu hỏi về nguồn gốc: Ai đã đặt ra luật? Ai có quyền đặt ra luật?

Trước đây thì những người có quyền thế như vua chúa, thường đặt ra luật bắt thần dân phải theo, ai không theo thì phải phạt. Nếu là chúa hiền thì thần dân được hưởng an lạc, nếu là bạo chúa thì thần dân phải chịu khổ. Muốn cho người ta dễ chấp nhận thì người làm ra luật thường hay cao tuyên rằng mình theo mệnh trời mà trị dân, rằng mình theo hướng đi tất yếu của lịch sử mà ai nấy phải theo.

Cũng có khi người ta giải thích rằng luật luân lý cũng như luật Nhà nước, đều là luật tự nhiên cả, vì cùng là do cái lý điều hành tất cả thiên địa nhân. Những như thế là không phân biệt luật tự nhiên và luật nhân vi, nghĩa là coi luật trong xã hội cũng là bất di bất dịch và có tính cách cưỡng bách như luật tự nhiên. Nếu ta không chấp nhận những lối giải thích như thế, thì chỉ còn một lối là chủ trương dân chúng phải đặt ra luật. Nhưng như thế cũng chưa hết vấn đề, vì dân chúng có thể mỗi người đi một ngả tuỳ theo sở thích và tư lợi. Nếu có người được bầu làm đại diện cho dân chúng, thì người đó lại cũng có sở thích và tư lợi của mình, cho nên chắc gì họ sẽ đặt ra luật để phục vụ cho công ích? Nhưng đây là vấn đề khác, cần phải đặt ra trong phạm vi luân lý học, đạo đức học và trong lý thuyết về Nhà nước.

Hai là: Luật nhân vi không có tính cách tuyệt đối. Chính vì nó không phải tự nhiên có mà do con người đặt ra, cho nên nó cũng có thể do con người thay đổi hay phế bỏ đi, như ta thường thấy trong đời sống xã hội. Khi có những thay đổi làm chuyển hướng cho vận mệnh con người thì ta gọi là "cách mệnh (mạng)".

Ba là: Luật nhân vi nhìn nhận rằng hành vi của con người có một sắc thái mới, một phẩm chất mới, khác hẳn các hiện tượng tự nhiên. Quả vậy, nếu luật tự nhiên chỉ mô tả sự vận động một cách vô tình, vô tội vạ của sự vật trong trời đất, thì luật luân lý hay là luật nhà nước có tác dụng là đánh giá tính cách thiện hay ác của hành ví. Ví dụ khi đứng trước một tai nạn giao thông thì nhà vật lý học có thể tìm ra các nguyên nhân vật lý làm cho có người thiệt mạng, nhưng trên bình diện pháp lý và luân lý, người ta tìm xem ai đã gây ra tai nạn, và người đó vô tình hay là hữu ý gây ra như thế, rồi xác định và phê phán đó là ngộ sát hay là cố sát.

Bốn là: Nếu luật tự nhiên điều hành sự vật có tính cách tự nhiên, thì luật nhân vi đặt ra cho con người có tự do, tự chủ, tuy có gò bó, đòi người ta phải theo, nhưng lại không gò bó một cách tất nhiên như thế. Không những là vì, như vừa nói trên đây, nó không có tính cách tuyệt đối và có thể phế bỏ được, mà còn vì trong thực hành người ta rất có thể không tuân theo, hoặc là vì có tinh thần bất khuất, vì cứng đầu không chịu theo, hay là vì muốn gian dối, hoặc là vì coi đó là luật bất công, vô đạo. Vì thế kèm theo luật nhân vi người ta thường có lời khen chê, hay là phép thưởng phạt. Đó là điều không có trong các luật tự nhiên.

Nhưng lời khen chê hay phép thưởng phạt lại cũng không có tính cách tất nhiên, không cưỡng bách được tự do con người. Thực thế, có người vô tội nhưng vẫn bị phạt oan, vì quan toà ăn hối lộ, có người ăn ở vô đạo, phạm đến phép nước, đến người khác, thế mà được bỏ qua đi. Mà như thế có thể là vì đút lót với quan trên, hoặc là vì người có quyền muốn để dành đó để tố giác sau này, cũng có thể là vì người khác có lòng nhân, rộng lượng tha thứ. Muốn giải thích cho hợp tình hợp lý, có người dựa vào tôn giáo mà nói đó hoặc là vì kiếp trước đã vụng đường tu, hoặc là rồi thế nào cũng sẽ trả "nợ chồng kiếp sau”. Và cứ theo quan niệm nghiệp báo khắt khe như luật tự nhiên ấy mà suy ra, người ta có thể nghĩ rằng không nên giúp đỡ kẻ bần cùng, cũng không thể hiểu sao có người lại rộng lượng tha thứ cho người khác, vì đã chắc rằng kẻ đó thế nào rồi cũng phải trả cho hết nợ trong kiếp này hay kiếp sau.

Quan niệm như thế tức là cho rằng thế giới của con người cũng có tính cách tất nhiên, không khác gì thế giới tự nhiên. Biết đâu quan niệm "vô ngã" lại đã chẳng góp thêm phần vào chủ trương cho rằng thế giới con người cũng chẳng khác gì thế giới tự nhiên khống có tất xấu, không cần có tha thứ hay thưởng phạt gì cả? Nhưng đây là một vấn đề khác cần phải được đào sâu hơn.

Quan hệ nhân quả

Vấn đề ở đây không phải là tin hay là không có nhân quả. Vì đây không phải là một khám phá thần tình của các bậc thượng trí siêu phàm. Đây là một quan hệ thông thường trong đời sống hàng ngày, tuy không cần phải đề xướng lên một cách trịnh trọng, nhưng ai nấy đều mặc nhiên chấp nhận trong khi hành động. Thực vậy, ta biết rằng khi ta nói gì, làm gì, thì đều có tác động, có hiệu quả đến người nghe, đến người đối diện với ta, cho nên ta lựa lời mà nói, cân nhắc việc làm để đạt mục đích. Khi ta sử dụng sự vật bên ngoài, thì ta biết rằng sự vật vận động một cách khá điều hòa: hễ có hiện tượng này thì chắc sẽ có hiện tượng kia. Nếu phản ứng của người khác hay là của sự vật đều không nằm trong khuôn khổ điều hòa, liên quan giữa cái trước với cái sau, giữa nguyên nhân và hậu quả, thì ta không thể có dự định gì hết trong cuộc sống này.

Ngược lại, có nhận định ra quan hệ nhân quả, ta mới có thể hiểu được sự vận động của sự vật, nếu sự vật và người xung quanh đều xuất hiện, vận động hay là phản ứng một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi lúc mỗi khác, một cách vô cớ, vô lý thì trời đất chỉ là một mớ hỗn độn, ta vừa không hiểu được ra sao, vừa không thể tính toán, xoay xở gì được. Nói khác đi, nhận định ra quan hệ nhân quả là điều sở đắc quan trọng của trí khôn con người.

Ngoài ra ta cũng mặc nhiên chấp nhận rằng sự vật vận động một cách điều hòa, không thất thường. Nếu quan hệ nhân quả lại thất thường, nay thế này, mai thế khác, thì nó thật là bí mật, có nó hay không có nó thì cũng thế, vì ta không thể nào trù tính gì được. Như thế có nghĩa là hai nguyên lý nhân quả và điều hòa đi đôi với nhau mà làm thành nguyên lý tất định, là nền tảng cho khoa học tìm ra các định luật khoa học.

Riêng về quan hệ nhân quả - từ đây ta hiểu là nó đi đôi với nguyên lý điều hòa ta cần phải phân biệt một cách rõ ràng hai phần: một là nguyên lý nhân quả, hai là định luật nhân quả.

Nguyên lý nhân quả tổng quát

Nguyên lý nhân quả là cái lẽ mà ta chấp nhận ngay từ đầu, một cách chung chung, tổng quát, nghĩa là chưa áp dụng vào cái gì cụ thể cả. Có thể đề xướng ra một cách tiêu cực như thế này: không có gì xảy ra mà lại không có nguyên nhân (duyên cớ). Lại cũng có thể đề xướng ra một cách tích cực như sau: Cái gì cũng có nguyên nhân.

Dĩ nhiên là nguyên lý này tựa vào kinh nghiệm của ta, nhưng xét là một nguyên lý có tính cách tổng quát, thì nó không phải hoàn toàn là do kinh nghiệm của ta mà ra. Thực thế, nguyên lý thì bao trùm tất cả mọi sự việc, nhưng đời sống và kinh nghiệm của ta và của cả nhân loại thì lại có hạn: chưa bao giờ ta có kinh nghiệm được hết tất cả mọi sự việc trong trời đất, để có thể nói tóm tất cả lại rằng bất cứ cái gì cũng có nguyên nhân.

Nguyên lý ta đề xướng lên có tính cách tổng quát, vượt ra ngoài tầm kinh nghiệm của ta. Có thể tầm mắt của ta mới có thể mở rộng ra bên ngoài kinh nghiệm hạn hẹp của ta. Có thể ta mới nảy ra ý định tìm ra những điều mới và có thể tiến bộ. Nếu ta chỉ hạn hẹp vào kinh nghiệm sở đắc mà thôi, thì thế giới sinh hoạt của ta cũng hạn hẹp và ngừng trệ lại.

Tuy nguyên lý nhân quả quan trọng, nhưng nó chỉ nói lên một cách chung chung, như là một hình thức trống rỗng, chưa có nội dung gì cụ thể, cho nên chưa nói lên được cho đích xác cái gì là nguyên nhân, cái gì là hậu quả. Muốn nói lên được cho đích xác, không thể lý luận suông trong phạm vi nguyên lý, mà phải đưa nguyên lý áp dụng một cách có phương pháp vào kinh nghiệm về từng loại đối tượng, để đi tới những định luật nhân quả phải có phương pháp mới được. Thực vậy, không phải vì lẽ bất cứ cái gì cũng có nguyên nhân, mà ta có thể gán bất cứ nguyên nhân nào cho bất cứ sự kiện nào. Vấn đề là phải đặt ra phương pháp kiểm chứng để xác định quan hệ đích thực giữa nguyên nhân loại này với hậu quả loại kia.

Trước khi bàn về định luật nhân quả, thiết tưởng cũng nên nhắc qua đến bốn nguyên lý mà triết gia Hi Lạp Aristoteles (384 - 322 TCN) đã đưa ra để tìm hiểu vạn vật. Theo ông thì có hai nguyên lý nội tại, là hình thể và chất thể và hai nguyên lý tại ngoại là nguyên nhân và mục đích. Dần dần người ta cho rằng hình thể và chất thể thuộc về phạm vi trừu tượng của suy luận triết học. Còn nguyên lý mục đích, thì có liên quan đến dự định của con người ta, cho nên có phần chủ quan. Vì thế khoa học thục nghiệm, nhằm đi tới tri thức khách quan, chỉ hạn hẹp vào việc truy tìm nguyên nhân, theo nguyên lý nhân quả mà thôi, hơn nữa lại chỉ dùng nó trong phạm vi mà ta có thể đo lường, so sánh và kiểm chứng được mà thôi. Đó là phương pháp dùng trong khoa học về các sự vật tự nhiên, phạm vi của vật lý học (tìm cái lý trong sự vật). Sau này đến khi nghiên cứu về con người, môi thấy là không thể bỏ qua tư , tưởng và dự định (mục đích) của chủ thể.

Định luật nhân quả riêng tư

Quan điểm khoa học

Ai nấy đều mặc nhiên chấp nhận quan hệ nhân quả và áp dụng một cách tự nhiên trong cuộc sống, mà không mấy khi suy luận cho thấu đáo. Trong các truyện thần thoại, các truyện cổ tích, ta thường thấy các dân tộc giải thích nguyên nhân các hiện tượng trong trời đất theo nhiều lối khác nhau, rồi thế hệ trước dạy lại cho thế hệ sau, mà ít ai kiểm chứng. Có người nói đến quan hệ nhân quả giữa sự việc ở kiếp này với sự việc ở kiếp khác, giữa sự việc có tính cách vật chất có thể đo lường được với sự việc không đo lường được. Làm như thế tức là có áp dụng nguyên lý nhân quả - có người cho là do các bậc thượng trí trực giác được và dạy cho ta - nhưng đó không phải là những định luật khoa học, vì nó ở ngoài phương pháp khoa học.

Quan điểm khoa học thì khác. Khoa học không có chân lý gia truyền hay bí truyền, mà cha mẹ, sư phụ hay là bậc thượng trí nào đó đóng cửa dạy cho con em, cho đệ từ ngoan ngoãn, bảo sao nghe vậy. Những điều nói lên trong khoa học thì có tính cách công cộng. Nó không phải là do thần nhân, thần linh hay Trời Phật dạy riêng cho tín đồ trong môn phái mà do người ta thoả thuận với nhau về phương pháp để kiến tạo, sao cho ai nấy đều có thể kiểm chứng và đồng ý. Uy tín của người trên không phải là tiêu chuẩn ở đây.

Mục đích là tìm biết sự vật cho đích xác hết sức, là nhắm tới tri thức khách quan. Có khi ta tưởng rằng biết một cách khách quan có nghĩa là sụ vật tự nó như thế nào thì mình biết đúng như thế, chứ không phải là biết theo như thiên kiến, theo như cảm giác hay là quan niệm chủ quan. Nói cho đúng ra, ta chỉ có thể biết được sự vật qua giới hạn của giác quan, của cơ cấu trí khôn ta. Ta thấy sự vật có ngũ sắc: xanh đỏ trắng vàng đen, hoặc là nóng hay lạnh. Nhưng ta cũng biết là có những người không phân biệt được mầu xanh với mầu đỏ, lại có khi ta thấy nóng mà người khác lại không thấy nóng. Như thế rõ ràng là có chủ quan, nhưng ta đã là chủ thể, thì làm thế nào lại có thể biết ngoài cảm giác và quan điểm của chủ thể được?

Vì thế cho nên quan điểm khách quan của khoa học không phải gạt bỏ đi tất cả các yếu tố liên quan đến chủ thể, coi như là không có chủ thể mà đã không có chủ thể thì còn ai là kẻ biết? nhưng là hạn hẹp những yếu tố về phẩm, thường nặng về chủ quan, như mầu sắc, nóng lạnh, chua cay... để đồng ý với nhau về lượng. Ví dụ thay vì bất đồng ý kiến về mầu sắc, thì thoả thuận với nhau về tần số của làn sóng ánh sáng (quang ba), thay vì nói đến cảm giác chủ quan nóng hay lạnh, thì nói nhiệt độ đã được là bao nhiêu độ...

Ta biết người xưa, Âu cũng như Á, khi bàn về trời đất thì thường nhận định về phẩm. Các triết gia Hi Lạp cũng như Ấn Độ thời Thượng cổ cho rằng thành phần của trời đất là tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong, hay là: đất, nước, lửa, khí (không khí). Người Hi Lạp cho rằng bốn thành phần đó có những đặc tính đối chọi với nhau: ướt đối với khô, lạnh đối với nóng. Đất thì khô và lạnh, nước thì ướt và lạnh, lửa thì khô và nóng, khí thì ướt và nóng. Riêng người Trung Hoa cổ cũng có cái nhìn về phẩm tương tự như thế thay vì tứ đại thì họ noi ngũ hành, là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, mà ngũ hành thì có liên quan, liên quan bí mật thế nào không rõ, đến ngũ phương, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tạng. Đó là những quan niệm về thiên nhiên theo cái nhìn về phẩm, tiếng Pháp gọi là Physique qualitative. Những cái biết như thế về phẩm, như tứ đại, ngũ hành hay là âm dương... chỉ là suy luận, không có phương pháp kiểm chứng, không đưa tới kỹ thuật gì hữu hiệu. Trái lại, khoa học chủ trương xét theo lượng, cho nên học về thiên nhiên theo quan điểm lượng, căn cứ vào đo lường, tức là Physique qualitative, tức là khoa mà ngày nay ta gọi là vật lý học.

Điểm quan trọng một cách cơ bản trong khoa học, đó là phép đo lường. Vẫn biết là ta không bỏ được cảm giác chủ quan về không gian dài ngắn, về thời gian lâu mau, và về trọng lượng nặng nhẹ. Nhưng khoa học đòi ta phải thoả thuận với nhau để xác định ra đơn vị để đo lường, để khi ta nói ra thì ai cũng hiểu được như nhau, mà không phải căn cứ vào cảm giác chủ quan không chính xác. Ví dụ khi ta nhúng tay vào nồi nước, thì ta chỉ có cảm giác là nóng, nóng hơn, lạnh, lạnh hơn, khó đồng ý với nhau, nhưng nếu ta đem cái hàn thử biểu nhúng vào nước, ta trông vào đó sẽ dễ dàng đồng ý là nóng 80oC, hay là 90oC là lạnh 4oC hay là 6oC.

Như thế là ta dùng các dụng cụ đo lường để ước lượng thay cho các giác quan. Tuy vậy đời sống thường nhật của nhà khoa học vẫn là thế giới thông thường do cảm giác đem lại. Những cái ta không có cách nào thực nghiệm để đo lường thì không thuộc về phạm vi khoa học thực nghiệm, ví dụ như thế giới tâm lý, thế giới tâm linh, thế giới bên kia, kiếp trước, kiếp sau, thế giới thần linh, thế giới của tưởng tượng, của giấc mơ... Cho nên khi nói về những thế giới như thế, người ta không có quyền nói nó hợp hay là không hợp với khoa học, vì nó thuộc về các lĩnh vực khác, không thể lẫn lộn được với khoa học.

Sau khi các sự kiện đã được phân loại và đo lường, thì người ta dùng phép quy nạp để rút ra những định luật nhân quả, nói lên cho đích xác cái gì là nhân, cái gì là quả, và hai cái nhân, quả ấy tăng giảm tương đối với nhau như thế nào. Ta gọi đây là định luật riêng, là vì nó áp dụng nguyên lý nhân quả tổng quát vào những phạm vi và đối tượng riêng.

Cũng cần phải nói thêm rằng các định luật khoa học là do người ta tạm thời phỏng đoán như thế để mô tả sự vận động của sự vật. Tạm thời, là vì hễ có một sự kiện nào môi không theo quí luật đó, thì sự kiện như thế không đổi được, mà trái lại phải sửa đổi định luật đi cho hợp với sự kiện mới. Nói tóm lại là tuy thiên nhiên vận động một cách tất yếu, nhưng định luật nhân quả chỉ là tạm thời, chứ chưa có giá trị dứt khoát.

Phương pháp truy tìm quan hệ nhân quả

Như đã nói trước đây, cái gì cũng có nguyên nhân, nhưng không phải vì thế mà khi tìm hiểu một sự kiện nào đó, ta có thể gán cho nó bất cứ nguyên nhân nào. Vấn đề là phải tìm, cùng trong một phạm vi thí nghiệm như nhau, cho biết quả này thì phải là do nhân nào. Theo như nhà triết gia khoa học người Anh, là John Stuart Mill (1806 - 1873), thì phép quy nạp cũng chính là phép truy tìm quan hệ nhân quả. Phép đó cơ bản chủ trương dùng mấy phương pháp sau đây:

Một là phương pháp tương đồng. Khi nhiều trường hợp của một hiện tượng mà ta nghiên cứu đều cùng có một yếu tố như nhau, thì yếu tố này được coi là nguyên nhân của hiện tượng ấy. Ví dụ: một số khách ăn trong một quán cơm bị đau bụng tháo dạ, khi điều tra, ta thấy là họ đã ăn nhiều món khác nhau, nhưng có một món mà tất cả họ đều ăn, là món gỏi cá, vậy theo phương pháp tương đồng, ta kết luận: món gỏi cá là nguyên nhân của cơn đau bụng đó.

Tuy vậy nếu chỉ có một phương pháp này, thì kết luận có thể là đúng, nhưng chưa chắc là đúng hẳn. Ví dụ trong một buổi tiếp tân ta thấy có một số người say sưa nói nhảm, khi điều tra, ta thấy người này thì uống rượu ta (rượu đê) pha nước, người kia uống whisky pha nước, người khác thì uống mai-khôi-lộ pha nước, người khác nữa lại uống sake của Nhật Bản cũng pha nước, theo phương pháp tương đồng ta kết luận: nước là yếu tố chung cho các trường hợp đó, cho nên nước là chính nguyên nhân cho cuộc say sưa trên đây. Nhưng theo lương tri mà xét thì thấy không ổn? Vì thế cần phải có thêm mấy phương pháp nữa.

Hai là phương pháp dị biệt. Nếu hiện tượng ta quan sát xuất hiện trong trường hợp này mà không xuất hiện trong trường hợp kia, đồng thời ta lại thấy hai trường hợp đó có nhiều yếu tố như nhau, trừ có một yếu tố là có trường hợp này mà không có trong trường hợp kia, thì ta có thể là nguyên nhân, hay hậu quả, hay một thành phần của hiện tượng nói trên.

Đem áp dụng phương pháp này vào ví dụ đưa ra sau cùng trên đây, ta lại thử cho người ta uống nguyên chất các thứ rượu kể trên đây mà không pha nước, nếu thấy người ta không say sưa gì cả, thì ta có thể chắc chắn rằng nước chính là nguyên nhân làm cho mọi người say sưa!

Cái mà J.S. Mill gọi là phương pháp thứ ba, không có gì mới lạ cả: Đó chỉ là dùng cả hai phương pháp 1 và 2, như ta vừa làm mà thôi.

Bốn là phương pháp tạm gọi là dư tồn. Nếu trong hiện tượng H mà ta quan sát có nhiều thành phần, như: A, B, C, mà các thành phần đó đã được ta nhận định, theo các phương pháp trước đây, như là hậu quả của các thành phần P, Q, R, trong nguyên nhân N, thì thành phần D, còn lại trong hiện tượng H, có thể coi là hậu quả của thành phần S, còn lại trong nguyên nhân N.

Năm là phương pháp tăng giảm đồng thời. Khi ta tăng hay giảm một hiện tượng, mà thấy có hiện tượng khác cũng đồng thời tăng giảm, thì tức là hai hiện tượng ấy có quan hệ nhân quả với nhau, hay cùng là hậu quả của một nguyên nhân khác. Có điều cần phải chú ý: Các phương pháp trên đây, dù sao, cũng chỉ là nhìn theo bề ngoài. Đáng lý ra, càng tìm được nhiều yếu tố tương đồng thì quan hệ nhân quả càng vững. Thế nhưng rất có thể là những yếu tố tương đồng đó chỉ là ngẫu nhiên, chứ không chắc đã là do quan hệ nhân quả. Ví dụ có hai ông bác sĩ. Ông Ất nói: các bệnh nhân mà tôi điều trị thì đều dùng một thứ thuốc viên mầu đỏ, nặng 4 g, cùng do một hãng bào chế, cùng mua tại một hiệu thuốc, cùng do một cô hàng gói trong bao giấy xanh, các người đó đều lành bệnh cả. Trái lại ông Bính nói: các người bị bệnh A mà tôi điều trị, đều uống thuốc cùng một chất hoá học B như nhau, và họ đều khỏi cả. Ta thấy tuy ông Bính không đưa ra được nhiều yếu tố tương đồng như ông Ất, nhưng liên quan nhân quả có phần đúng hơn, vì nó thích hợp hơn. Vấn đề khó khăn là làm sao phỏng đoán được yếu tố thích hợp. Thiếu nó thì khi thực nghiệm có tìm ra bao nhiêu yếu tố tương đồng, cũng chỉ là bì phu chi ngoại, không đi đến đâu cả.

Nhận xét về quan hệ nhân quả

Có một số triết gia trong truyền thống tư tưởng duy nghiệm nước Anh chủ trương rằng kinh nghiệm không thể cho ta biết có quan hệ nhân quả hay không. Vì lẽ rằng ta chỉ thấy hiện tượng này và hiện tượng kia rất nhiều lần đi đôi với nhau, hoặc là đi theo nhau, cho nên từ đó ta nảy ra mềm tin chủ quan là hiện tượng này sinh ra hiện tượng kia mà thôi. Nhưng đã có người khác hỏi vặn lại: Đã đành như vậy là hiện tượng này không phải là nguyên nhân sinh ra hiện tượng kia, nhưng ít ra thì người vừa phủ nhận quan hệ nhân quả, cũng đã công nhận rằng chính cái việc quan sát hai hiện tượng thường đi đôi với nhau đã sinh ra trong đầu óc của ta cái niềm tin chủ quan rằng hai sự kiện có quan hệ nhân quả với nhau!

Đó là những suy luận có tính triết học. Còn lập trường khoa học thì đứng trong phạm vi thực nghiệm, cho nên cũng dần dần bỏ không nói đến quan hệ nhân quả, vì khó mà nói cho đúng cái gì sinh ra cái gì. Thực vậy, mỗi khi có một hiện tượng xuất hiện, thì ta thấy phải có nhiều điều kiện đi trước, mà không điều kiện nào có thể được gọi là nguyên nhân duy nhất cả. Vì thế muốn nói cho chính danh, thì phải đổi lại, phải chỉnh danh: không nói đến nguyên nhân, nhưng nói đến điều kiện.

Có hai thứ điều kiện: Một là điều kiện đủ. Trong trường hợp hễ có A thì cũng có B, ta gọi A là điều kiện đủ để có B. Hai là điều kiện cần, đó là điều kiện không có không được. Trong trường hợp hễ không có M thì cũng không có N, ta gọi M là điều kiện cần của N. Nhưng cũng trong trường hợp này, nếu có M thì chưa chắc là có N, vì M không phải là điều kiện đầy đủ của N. Ví dụ, dưỡng khí trong không gian là điều kiện tất yếu, không có không được, để gây ra hỏa hoạn, nhưng nó không phải là điều kiện đầy đủ để gây ra cháy nhà.

Khoa học chỉ cần biết như thế, chứ không cần dùng đến từ ngữ nguyên nhân có tính cách triết học. Và khi áp dụng khoa học vào kỹ thuật, nếu muốn tạo ra một hiện tượng nào đó, người ta tìm cách đặt ra điều kiện đủ của nó. Còn khi muốn tránh không cho một hiện tượng nào đó xảy ra, thì chỉ cần gạt bỏ đi một điều kiện cần mà thôi. Ví dụ muốn tránh hỏa hoạn chỉ cần tránh không cho ai châm lửa, không cho giây điện chạm nhau nảy lửa, hay là... rút hết dưỡng khí trong không gian đi!

Trong đời sống thường nhật, người ta vẫn hay nới đến nguyên nhân, nhưng thường chỉ có ý hiểu là điều kiện đã làm cho hiện tượng nào đó bộc phát, chứ không có ý nói đến tất cả các điều kiện. Ví dụ khi tìm nguyên nhân của một hỏa hoạn thì người ta có ý hỏi ai đã châm lửa, dây điện chạm nhau bật lửa như thế nào, chứ không ai nói đến dưỡng khí luôn luôn có trong không gian, tuy nó là điều kiện tất yếu.

Riêng trong khoa học thực nghiệm về thiên nhiên, thì ta biết tuy phải tìm tòi cho có phương pháp nhưng các định luật lại không có tính cách tất yếu, vì những kinh nghiệm đã đưa ta đến các định luật thì có hạn, mà định luật đã được ta tổng quát hoá thì lại bao gồm vô số những trường hợp mà ta không thể nào gặp hay là thí nghiệm được hết. Cho nên các nhà khoa học đều công nhận rằng theo lý thuyết nó chỉ có giá trị tạm thời. Vì thế những ai muốn chủ trương tư tưởng của mình là chân lý vững chắc, thì thiết tưởng không nên cho nó cái nhãn hiệu là khoa học, nhất là khi chính mình lại không theo phương pháp khoa học thực nghiệm.

Có hai điều đáng chú ý về sự khác nhau giữa lý thuyết và thực hành. Một là nếu vật lý học nghiên cứu về các vật cỡ lớn, thì ta thấy các định luật thường là những công thức, những tỷ lệ khá đơn sơ, rất dễ cho việc tính toán, nhưng khi nghiên cứu những vật cỡ nhỏ như ở cấp điện tử, thì các định luật lại rất phiền toái, không chính xác và chỉ có giá trị thống kê mà thôi. Tuy vậy, trong đời sống thường nhật ta vẫn áp dụng các định luật khoa học một cách xuôi chảy vào các vật cỡ lớn. Hai là tuy rằng theo lý thuyết các định luật khoa học chỉ là tạm thời, nhưng trong thực hành ta cũng lại thấy nó rất vững, có thể áp dụng rất hữu hiệu vào việc sáng chế các thứ máy móc tinh xảo. Và đó là hai điều rất lạ, ta chưa biết vì sao lại như vậy.

Để kết luận tạm thời tôi xin tóm lại ba nhận xét:

1) Cần phải phân biệt quan niệm khoa học thực nghiệm với những quan niệm khác, không theo phương pháp thực nghiệm và không có kiểm chứng một cách công cộng.

2) Chính trong phạm vi khoa học cũng cần phải phân biệt nguyên lý nhân quả với định luật nhân quả, đồng thời hạn chế định luật này vào những sự vật mà ta đo lường được.

3) Sau cùng, lại cũng cần phân biệt thế giới tự nhiên với thế giới con người, vì nếu ta có thể giải thích được thế giới sự vật bằng quan hệ nhân quả, thì trong thế giới con người, ta còn phải kể đến cảm giác và cái nhìn chủ quan, đến tự do và những ảo tưởng, hy vọng và dự định có liên quan đến luân thường đạo lý.

Nhưng đây lại là một vấn đề khác, vì nếu thế giới con người không hoàn toàn như thế giới tự nhiên thì phải có tiêu chuẩn riêng trong khoa học con người, để xác định thế nào là sự kiện, là định luật, là lý thuyết và những thứ đó có giá trị đến đâu.

Nguồn:Tạp chí Nghiên cứu con người
----------------------------------------------
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-c ... hoc-5.html

User avatar
long
Posts: 429
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Nhân quả trong phim bạo lực

Postby long » Sat Jan 05, 2019 2:31 am

Tôi thường rất thích xem phim “hành động” là loại phim thường có những hình ảnh bạo lực. Nhiều người cho rằng không nên xem phim có hình ảnh bạo lực vì dễ bị ảnh hưởng, nhất là khiến cho lúc ngủ sẽ có những cơn chiêm bao dữ dội và giấc ngủ sẽ không được êm ả. Điều này xem ra cũng đúng. Hình ảnh bạo lực rất dễ ảnh hưởng đến người xem, đặc biệt là đối với giới trẻ trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy mà trước khi trình chiếu một phim bạo lực, màn ảnh lúc nào cũng hiện ra câu cảnh báo người xem.

Riêng tôi, tôi không bị ảnh hưởng mấy, vì lúc xem bất cứ một phim truyện nào, đầu tiên tôi cũng luôn nghĩ rằng đây chỉ là chuyện phim. Dù nhà làm phim có dựa theo một câu chuyện thật, thì cũng vẫn có thêm thắt chút hư cấu và cường điệu mọi chi tiết để hấp dẫn người xem. Thứ nữa, phim bạo lực, tuy vậy, luôn luôn là một phim có tính cách giáo dục và làm cho người xem phân biệt được cái xấu và cái tốt, cái thiện và cái ác, và nhất là cái nhân quả báo ứng. Dĩ nhiên những phim tình cảm thì lúc nào cũng có thể làm cho người xem mủi lòng rung động theo diễn tiến tình cảm của câu chuyện, nhưng chỉ trong khi xem mà thôi. Chuyện tình thì đầu phim đến cuối phim cũng chỉ là chuyện tình, có hậu hoặc không có hậu, nhưng chuyện phim hành động thì nhất định là có một đoạn kết mà luôn luôn kẻ ác phải trả giá, để cho người xem phải suy nghĩ.

Cái lý do tôi thích phim hành động, là luôn luôn trong chuyện phim, những kẻ ác lúc nào cũng bị trừng phạt, chịu quả báo vào cuối câu chuyện. Thường thì nhân vật ác trong chuyện phim phần lớn là những người giàu có, quyền lực, nhưng là những kẻ xấu xa, gian manh, đồi bại, độc ác, hiếp đáp, hại người lương thiện. Hoặc là những kẻ đội lốt một khuôn mặt đạo đức để dễ bề lừa đảo kẻ khác. Tôi cảm thấy thú vị và luôn luôn chờ đợi cuối phim để thấy cảnh những kẻ đó bị lột mặt nạ, chịu sự trừng phạt, dù bất cứ là ai, kể cả có khi là một vị tổng thống hoặc các quan chức cao cấp trong các phim Mỹ.

Người ta thường nói “nhân chi sơ tính bổn thiện”. Có lẽ cũng đúng, vì thực tâm không ai sinh ra bản chất đã là kẻ ác, mà chỉ vì hoàn cảnh xã hội đã biến đổi con người. Do cờ bạc, rượu chè, nghèo túng, bần cùng sinh đạo tặc, đạo tặc sinh sát nhân… Cứ lấy những nhà làm những cuốn phim bạo lực mà suy ra. Chưa có một cuốn phim hành động nào mà kẻ ác được nhởn nhơ sau những hành vi xấu xa độc ác. Điều đó chứng tỏ con người luôn luôn hướng thiện hoặc ít nhất là có lòng hướng thiện. Tuy nhiên, vì cuộc sống hàng ngày, hoàn cảnh thường làm con người đổi thay, ở với Thiện thì sẽ lây cái thiện, ở với Ác thì sẽ nhiễm cái ác. Có những cô gái bẩm sinh thấy một giọt máu đã có thể xâm xoàng, nhưng lúc đã là sinh viên, vào học y khoa, bắt buộc phải tiếp xúc với cơ thể con người, dần dần cầm con dao mổ, xẻ da thịt một cách dễ dàng. Có những anh học trò thư sinh ốm yếu trói gà không chặt, nhưng sau một thời gian sống trong quân ngũ, cũng có thể cầm súng bắn chết người một cách thản nhiên. Đó là lý do con người cần có một tôn giáo tốt để nương theo. Bạo lực không ở trong phim ảnh, mà ở trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Cờ bạc, rượu chè, ma túy làm cho con người bị đẩy vào tội ác một cách dễ dàng.

Bây giờ những tin tức hàng ngày trên báo chí, có những tin tức làm cho người đọc không thể nào hình dung nổi như những chuyện giết nhau không có một lý do chính đáng nào. Giết người nguyên nhân chỉ vì chuyện dẫm phải chân nhau trong đám đông, chạy xe lấn đường nhau chút đỉnh hay chỉ sau vài lời qua tiếng lại không đâu trong một quán nhậu… Giết người cướp của thì đã đành, chứ giết người chỉ vì không hài lòng một cái nhìn của đối phương mà mình cho là cái nhìn “đểu” thì quả là thật phi lý. Không hiểu ảnh hưởng xã hội trên con người thế nào mà lại có những tình trạng tệ hại đến thế. Có thể là những con người đó thiếu một sự giáo dục gia đình tối thiểu, mất cả lòng tin vào cuộc sống, và nhất là không có một tinh thần tôn giáo nào trong cuộc sống hàng ngày. Đó là những con người chỉ nghĩ đến sự thỏa mãn dục tính và coi thường mạng sống không phải của kẻ khác mà là ngay cả chính mình. Giết người một lần được thì có thể lặp lại nhiều lần không chút đắn đo ngần ngại mãi cho đến khi bị báo ứng.

Thường những kẻ giết người, làm việc ác, trái với đạo đức, khi phải ra tòa, bị kết án nặng nề thì hầu hết đều ân hận vì những hành vi không kiểm soát được của mình lúc gây ra tội ác. Điều đó cũng có thể chứng tỏ phần nào con người vốn không ai muốn làm điều ác. Không có một người nào trước khi làm một điều ác mà lại có thì giờ nghĩ đến chuyện một quả báo có thể chờ đợi mình sau đó. Vậy thì tư duy về luật nhân quả phải được cấy vào trong từng con người, để sẵn sàng thức tỉnh lương tâm của họ. Nhiều người cho rằng con người không cần theo một tôn giáo nào cả, chỉ cần sống cho có ý nghĩa. Và người ta giải thích sống có ý nghĩa, có nghĩa là làm điều thiện và không làm điều ác, nghĩa là đừng làm những điều mà mình không muốn người ta làm với mình. Sống có ý nghĩa, có nghĩa là không làm điều ác đức hại người và phải tin vào nhân quả. Thực ra, đó chính là những lời dạy của đạo Phật, nhưng nếu nói là không cần nghe lời Phật dạy mà chỉ tự mình nghĩ ra như thế thì quả là không thực tế chút nào. Tôi không biết những tôn giáo khác dạy cho tín đồ những gì. Riêng Phật giáo, dạy cho con người làm thiện và không làm ác, từ bi hỷ xả. Có theo Phật giáo thì mới có thể hiểu và thấm nhuần được thuyết nhân quả của nhà Phật, còn bỗng dưng nghĩ ra chuyện nhân quả để mà tránh điều ác thì quá khó. Có lẽ tôn giáo nào cũng có chút mù quáng thì mới gọi là tôn giáo, vì tôn giáo nào phần nhiều cũng có một đấng giáo chủ đầy quyền năng ban phát ân huệ cho tín đồ. Bởi vậy đấng giáo chủ quyền năng có thể trừng phạt tín đồ nếu không theo lời dạy của vị đó, và vì có chút mù quáng, nên tín đồ mới tin tưởng tối đa vào quyền năng đó, và sợ bị trừng phạt. Phật tử đúng nghĩa thì không bị mù quáng. Người theo Phật giáo thì phải tự mình ý thức lời dạy của Đức Phật để đạt đến từ bi hỷ xả, nghĩa là làm thiện tránh ác mà thôi. Vì vậy, con người muốn làm những điều tốt thì dù sao cũng phải ở trong một môi trường tôn giáo để được hướng dẫn tu tập, nhắc nhở thường xuyên thì mới có thể ghi nhớ vào trong tâm mình dễ dàng hơn. Hậu quả của chuyện làm ác theo Phật giáo, chỉ bản thân người đó phải chịu chứ chẳng có ai trừng phạt hoặc tha thứ cho mình cả.

Người ta tránh xem phim bạo lực vì sợ bị ảnh hưởng bởi những hành vi bạo lực thường còn được cường điệu thêm cho hấp dẫn người xem. Tuy nhiên, phim bạo lực chính là những phương tiện để truyền bá thuyết nhân quả một cách hữu hiệu.

Thường ai cũng tự nhủ mình lái xe phải cẩn thận, không chạy nhanh để xảy ra tai nạn. Nhưng gặp lúc gấp chuyện thì ai cũng có thể quên mất sự cẩn thận ngay. Trong tất cả mọi trường hợp đều như thế, nghĩa là ai ai cũng biết đến cái gọi là nhân quả, nhưng nhập tâm để ghi nhớ trong lòng lại là chuyện khác. Bởi vậy, phải tu tập để tâm lúc nào cũng được sáng suốt, an lạc thì mới mong tránh được phần nào hậu quả do cái nhân không đúng của mình làm ra. Nếu không có một tôn giáo để nương theo, thì con người khó để có thể tự mình tu thân được. Có một ai đó soi đường cho mình, thường xuyên nhắc nhở mình, hướng dẫn mình thì mới mong có thể tạo thành thói quen tốt ngay cả trong tư duy.

Biết về nhân quả là một chuyện, nhưng biết để tránh những hành động sai trái có thể đem đến hậu quả cho mình là chuyện khác. Ai cũng biết bốn chữ “ngoại thân chi vật”, ai cũng biết đời là vô thường, nhưng khi mất mát vẫn không khỏi khổ đau. Có một tôn giáo để duy trì niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống đầy rẫy tội ác xấu xa là một điều cần thiết. Đối với tôi, xem phim hành động, bạo lực chỉ như một sự nhắc nhở thường xuyên đến lý thuyết nhân quả vậy. Trong cuộc sống thực, có những kẻ ác không phải trả giá và chính bản thân họ chưa chắc đã thấy rõ ràng cái hậu quả của những hành động sai trái của họ. Tuy nhiên khi làm phim, đạo diễn luôn luôn cho khán giả thấy cái hậu quả đó, không những vừa làm cho câu chuyện có ý nghĩa thêm, mà còn có mục đích răn dạy về đạo đức luân lý.

Thường, phim ảnh chỉ là những tác phẩm dựa theo thực tế đã xảy ra và dĩ nhiên là không thể tránh khỏi phần nào ảnh hưởng xấu cho những kẻ dễ bị ảnh hưởng phim ảnh, nhưng dù sao vẫn có cái lợi ích trong đó.

Tóm lại, bạo lực ngoài đời chỉ là bạo lực. Bạo lực trong phim ảnh là cái bạo lực dẫn đến cái hậu quả của nó làm cho người xem phải có suy nghĩ về luật nhân quả báo ứng vậy.

Nguồn:Văn hóa Phật giáo
------------------------------
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-c ... o-luc.html

User avatar
long
Posts: 429
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Nhân Quả đường đời

Postby long » Sat Jan 05, 2019 11:46 am

Thuyết ‘Nhân Quả’ thực ra không xa lạ gì với thực tiễn quản trị ( bản thân, tổ chức hay xã tắc ) ! Nhân Quả không phụ thuộc vào ‘ý thích’ của một ai cả, vì đó là quy luật tuyệt đối ! Tuy nhiên chúng ta muốn diễn giải sao cho tích cực, trên hết và xuyên suốt phải tri kiến ‘trên thông Thiên Văn, giữa tường Địa Lý, giữa hiểu Con Người’ . Nhiều bạn hỏi tôi về Nhân Quả, tôi xin chia sẻ bằng vài câu thơ…


NHÂN QUẢ nghiệm thấy chính tại Ta

Nơi sinh nơi nhận thường trong nhà

Gây TAI nên HỌA tìm đường đến

NHÂN bây giờ, QUẢ sẽ ở đằng xa

XẤU, thì làm chỗ cho MA

ÁC, thì bị QUỶ lôi tha đọa đày

THAM, thì sống nặng mỗi ngày

MÊ, bị cuồng tín dắt tay lừa chài

NHÂN QUẢ tuyệt đối chẳng sai

Làm điều THIỆN ĐỨC ngày mai PHÚC LÀNH

Giọt đời mang ĐẠO THIÊN THANH

Trôi trên một lá SEN xanh nhẹ nhàng

TRÍ NĂNG để bắc cầu sang

TÍN TÂM vững bước giữa ĐÀNG chông chênh

Xung quanh trắc trở gập ghềnh

TUỆ MINH soi rọi cho Mình VỊ LAI

----------------------
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-c ... g-doi.html

User avatar
long
Posts: 429
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Trò chuyện giữa nhân và quả

Postby long » Sat Jan 05, 2019 12:12 pm

Tôi muốn nói với các Bạn trước khi dẫn các Bạn vào cuộc đối thoại này: Nếu thừa nhận Chết là hết thì Luật Nhân Quả không còn đúng nữa. Luật Nhân Quả diễn ra ở những thời gian / không gian khác nhau và xuyên Kiếp trong thân phận của Sự Sống khác nhau nhưng mang Tinh thần Con Người.

Nhân: Chào Chị Quả. Thật hiếm khi chúng ta cùng gặp nhau như thế này. Mọi thứ người ta đều đổ lên đầu mà kết tội cho Tôi, mà phần lớn vào lúc mà Chị vốn chả ra gì. Khi Chị gặp tôi thì nói chung cũng thật đáng thương lắm!

Quả: Chào Anh Nhân. Ôi, tôi mới thật khốn khổ phải gánh chịu hết, trong khi nói chung là khi Anh trước đó được sung sướng hoặc đắc thắng, có bao giờ nghĩ đến tôi ?! Khi Anh gặp tôi thế này thì chắc Anh cũng tử tế hơn nhiều lúc khác rồi phải không ?!

Nhân: Thôi mà….Chúng ta đều gắn với một con người cụ thể của Chủ nhân, là một phần lớn trong Cuộc sống của họ

Quả: Không! Không phải thế! Anh là sự thôi thúc về Tham Sân Si của Chủ nhân, trong khi chính tôi mới là Cuộc Sống đích thực của họ

Nhân: Chị hay lo về Tương lai, tôi lại đau đáu nỗi niềm về Quá khứ đến Hiện tại. Nhưng nói thật là chính Chị hay làm tôi phải nghĩ ngợi mà mất ngủ, chứ có thiết gì đến cái mà Chị nói liên quan đến Tham Sân Si đâu. Chỉ thấy nhiều khi Chủ nhân cứ dương dương tự đắc mà tội nghiệp!

Quả: Anh ạ, tôi ở trong mọi chỗ từ Thể chất đến ngóc ngách Tinh thần của Chủ nhân, nên tôi biết Chủ nhân chẳng hề sung sướng, kể từ khi Người là kẻ nghèo khó đến hôm nay Quyền Tiền đầy mình. Trong giấc mơ Chủ nhân còn trằn trọc làm nhàm khó hiểu lắm: Ôi Kiếp Người, cùng là Kiếp Người cả thôi, sao có khi là Con Chó mà cao quí…Nó sống hay chết đều dâng hiến và chỉ có cái đau của Thể xác….

Nhân: Thực ra Tôi và Chị đều biết nhau rất rõ, cho dù như rất ít cùng lúc chúng ta gặp nhau trong một cơ hội như thế này! Chị biết không ? Đó là khi chính Chị lại khiến Chủ nhân lại phải có hành động gì đấy để sinh ra tôi. Ôi! Nói là cơ hội hiếm hoi chúng ta gặp nhau, nhưng là lúc mà Chủ nhân căng thẳng nhất

Quả: Tôi hiểu và xin đừng trách nhau…Thực ra thì Anh sinh, nhưng tôi đẻ thôi…nhưng Tôi vốn luôn chỉ mong điều tốt, và ngay cả khi tình trạng của tôi không tốt, khiến sinh tiếp ra Anh thì cũng là thế. Tôi biết, Anh cũng không có ý mong điều xấu, nhưng nhiều khi Anh rất chủ quan khinh xuất đến mức bất chấp và liều lĩnh

Nhân: Ôi, nhiều khi tôi đâu có nhận ra mình! ? Chủ nhân sắp chết, Chị không thương xót sao mà cứ lắm lời đến thế ? Còn tôi lúc này như bế tắc.

Quả: Khi Chủ nhân đứng trên ghế bị cáo, là lúc người ta gọi tên tôi, cũng là lúc anh bị truy đến nơi đến chốn. Anh không đau khổ bằng tôi lúc Chủ nhân đang như thế này đâu. Lúc xuôi chèo mát mái Chủ nhân chỉ nói đến Anh, mà tôi biết mình chỉ là điều gì đó cực kì phù phiếm…Chỉ khi Chủ nhân thành Ai đó thì tôi mới được gọi đúng là Tôi, như vận mệnh của Chủ nhân vậy

Nhân: Chị ạ, khi Chủ nhân đang rắp Tâm nung nấu định làm gì đó thì tôi cũng biết Người lạc quan về cái Tôi sẽ đem đến mà gần như không để ý đến điều tôi sẽ lấy đi từ Người. Nhưng có Trời chứng giám, những lúc ấy tôi luôn thấy hình bên cạnh mình hình bóng hai đứa: thằng Tính Toán và con Ma Lợi. Mặc dù bên tôi cũng có Chú Lý Trí và Cô Cẩn Trọng. Cô Chú hay khuyên Chủ nhân là hãy làm việc tốt, nhưng thằng Tính Toán và con Ma Lợi nói: hãy nhìn vào Chị ở bao nhiêu con người tốt đẹp bỗng nhiên gặp cái chết đáng thương hoặc đau khổ mà khiến Chủ nhân lại nao núng

Quả: Oh, thế à? Còn tôi thường thấy những bóng dáng của Thằng Trả Thù và Con Ghẻ lạnh. Đôi khi tôi cũng thấy Cậu Niềm vui và Cô Hạnh phúc, những lúc ấy người ta trầm trồ về tôi mà ca tụng Chủ nhân lắm

Nhân: Đấy! Đó cũng chính là những người mà Chủ nhân hay mang ra để tranh luận với Chú Lý Trí và Cô Cẩn Trọng đấy! Ra thế, hèn gì khi Chủ nhân quyết định một điều gì không phải lúc nào Người cũng buồn, lắm khi hào hứng là đằng khác

Quả: Tôi muốn tâm sự với Anh, vì một điều chắc Anh chưa biết rằng: Tôi sống rất lâu trong Quá khứ Tiền kiếp đến Tương Lai của Chủ nhân sau này, ngay cả khi Người chết đi rồi! Anh chỉ có từ khi Chủ nhân sinh ra lớn lên cho đến chính Hiện Tại ngày hôm nay mà thôi, anh ko có ở Kiếp trước của Người! Tôi là Kiếp trước thực sự là định mệnh của Chủ nhân, và khi Chủ nhân được sinh ra Tôi được biến đổi bởi cách sống của Chủ nhân

Nhân: Ôi, chị nói gì mà tôi không hiểu? Chị có từ kiếp trước? Ngay cả khi chết đi rồi??? Nhưng tôi cũng từng nghe Cha Mẹ của Chủ nhân khi còn sống vẫn nói với Người rằng: làm gì thì làm đừng để lại Quả đắng cho Con Cháu….Chủ nhân hay đáp lại bằng câu: Dào ôi…Sao Cha Mẹ tốt đẹp đến thế mà con chẳng được hưởng gì hay ho mà cứ phải lăn lộn sống đến mức chẳng ra con người mà con hay Cha Mẹ từng muốn ? Hay chính con phải chịu điều gì đó không hay từ Cha Mẹ từng gây ra trước kia ? Rồi tôi thấy Cha Mẹ Chủ nhân chẳng nói được gì nữa ?

Quả: Thế này Anh ạ. Người nào làm người ấy chịu! Chủ nhân ko phải gánh những gì Chủ nhân không gây ra, nhưng phải tự sửa mình, tích Đức để kiếp sau của Chủ nhân được sáng láng. Còn hôm nay nếu Cha Mẹ phải gánh chịu những phiền khổ từ Chủ nhân thì đó chính là bởi những điều Họ đã làm từ Kiếp trước, Khổ trong Ai thì Quả ở Người đó. Tôi ở trong Chủ nhân thôi, chứ không phải là Quả ở trong Cha Mẹ Chủ nhân đâu đâu

Nhân: Chị có thấy những Loài Chó, Lợn, Gà…không có chúng ta hiện hữu ở những Loài đó không ?

Quả: Vì tôi đã từng phải trú ngụ trong nhưng Loài đó nên tôi nói anh hiểu: chỉ có ở Con Người – Loài duy nhất có Tham Sân Si được mưu toan bởi Trí Năng và quan niệm về Đạo đức mới có Tôi và Anh thôi. Con Hổ ăn thịt con Nai thì đó là bản năng chứ không thuộc về Trí Năng hay Đạo đức nên không bị kết tội

Nhân: Tôi đôi khi vẫn thấy Chủ nhân hét lên: đếch sợ, có Tiền là xong hết! Tòa án chỉ đáng kinh với những kẻ không đủ tiền để mua được ý Người mà thôi. Nhưng chính Tôi khi bị gọi tên trước Tòa án của Người tôi chả thấy hai người đáng kính hàng ngày đâu nữa là Chủ Lý Trí và Cô Cẩn Trọng, vì thế Ai cũng chỉ thấy tôi dường như có Tội. Nhưng nhiều điều xảy ra sau đó cũng không giúp tôi đủ hình dung ra những điều Chị muốn ám chỉ. Thật sự là tôi muốn biết đến sự Sợ Hãi như Chị từng trải nghiệm.

Quả: Sự kết tội là đồng thời bởi Tòa án của Trời, của Đất, của Người Anh ạ. Nêu có tội, trước Tòa án của Người họ sợ hãi, dằn vặt khổ tâm , nhưng vẫn có chỗ dung, ít ra là Nhà tù hay mảnh đất mà chôn hoặc cũng có thể dùng Tiền mà thay đổi được. Ở Tòa án của Đất, Họ được định đoạt bởi chính Họ còn có thể có giá trị gì với Loài khác nữa không, như con Chuột vẫn có giá trị với con Rắn chẳng hạn.. Người ta không thể được tái sinh vào Loài sức mạnh, ở nơi Hạnh phúc, hay phải sống không được như hằng muốn mà luôn phải đeo những u bệnh hoạn, mang lốt của Loài nhược tiểu - Còn Tòa án của Trời là định mệnh của đọa đầy truyền Kiếp với những Khổ Hình mà Con Người không thể nghĩ ra được, chỉ có ăn năn sám hối bằng sự phải tôi luyện trong Bể Khổ Kinh Luân đó. Hãy tưởng tưởng ở Tòa án của Người sự sợ hãi hay đâu đớn là nhất thời, nhưng ở Tòa án của Đất là trọn Kiếp, ở Tòa án của Trời là không ngưng nghỉ. Người đa cảm, Đất đa mang, nhưng Trời chỉ có Nhất Ý. Luật chỉ là cái Người nghĩ ra, Trời phán xét bởi Đạo, Đất dung chứa bởi Đức. Do vậy Tiền chỉ là cái để mua bán những thứ nhỏ bé, trong đời sống giữa Họ với nhau mà thôi

Nhân: Nói chuyện với Chị mệt quá, rắc rối quá, khiến tôi cứ muốn phó mặc mọi điều vào Chủ nhân. Vì có thế nào Người hưởng, Người chịu, chứ các Tòa án như Chị nói chỉ gọi tên tôi ra là xong chứ nào tôi có sao đâu trong muôn những thứ Khổ Hình đó nhỉ ?

Quả: Ôi, Anh nhầm rồi! Chúng ta không kẻ nào sung sướng gì khi đứng ngoài cuộc đâu, đều gắn chặt với Chủ nhân trong hành trình sống của Người. Chính Anh mới là kẻ phải chịu nhúng vào Bể Khổ Hình đó, đọa đày cùng thân xác của Chủ nhân. Còn tôi chịu sự vò xé để mong đợi sự thay đổi tốt hơn đấy….

Nhân: Uh…chúng ta làm thế nào để nói điều này với Chủ nhân nhỉ ? Với trải nghiệm của mình, Tôi công nhận với Chị là Con Người có thể nhìn được vào Vũ Trụ xa xăm bằng trí tuệ, nhưng nhìn được rất ngắn vào Tương Lai của chính Họ. Họ có thể có Đức Tin rằng phát tin hiệu vào Vũ Trụ vô định mà Hi Vọng ngày nào đó mai sau sẽ có một Nền Văn Minh khác trả lời…Thế mà …

Quả: Có hẳn thế không nhỉ ? Tôi lại e rằng Họ thừa Trí khôn nhưng thực sự là thiếu Đức Tin vào chính Họ và quá ít Hi vọng về Cuộc sống tốt sau cái Chết….? Không thể bằng lời nói, sự tiên đoán hay báo mộng cho Chủ nhân được đâu….Oh…Nhưng chỉ mong Chủ nhân Giác Ngộ…và có lẽ Tôi cảnh tỉnh Chủ nhân tốt hơn Anh, còn Anh có thể hãy hô hoán lên với càng nhiều người càng tốt khi Chủ nhân định làm một điều gì đó

Nhân: Ôi….Tôi hiểu ý Chị rồi, Hay thật đấy! Đúng, đúng là cần hô hoán lên cho càng nhiều người biết càng tốt mỗi khi Chủ nhân định làm gì đấy, sẽ giúp được Chủ nhân, Người sẽ hướng các việc làm của mình đến mọi người nhiều hơn… và sẽ kiểm soát mình tốt hơn…Này Chị ơi ….Chung qui lại, dù thế nào tôi và Chị đều có Thánh Mẫu Đức Tin và Thần Phụ Hi Vọng phải không?

Quả: Thôi tôi lại chui vào Cuộc sống của Chủ nhân đây, với tất cả những gì Anh đã làm và cả từ Tiền Kiếp. Còn Anh hãy rủ được Chú Lý Trí, Cô Cẩn Trọng đẩy thằng Toan Tính và con Ma Lợi đi thật xa Chủ nhân, và ngay cả Anh cũng nên thỉnh thoảng tìm cách gặp tôi trong giấc mơ của Người nhé…




--------------------------------------------------------
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-c ... a_qua.html
Attachments
Thuyet-An-Hoa.jpg
Thuyet-An-Hoa.jpg (80 KiB) Viewed 259 times
Dao-duc-kinh.jpg
Dao-duc-kinh.jpg (100.99 KiB) Viewed 259 times

User avatar
long
Posts: 429
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Đôi điều luận về nhân quả- nghiệp báo

Postby long » Sat Jan 05, 2019 1:02 pm

Mặc dù các tôn giáo nhất là Phật giáo đều nhấn mạnh đến vấn đề Nhân Quả - Nghiệp báo, song Luật Nhân quả không phải là của riêng một tôn giáo nào, nó là một luật của tự nhiên (Law of Nature). Đã là luật của tự nhiên thì ai cũng hiểu rằng không có một sức mạnh, hay ý chí nào can thiệp vào để bắt nó phải theo ý muốn của riêng mình cả. Nó sẽ vận hành theo đúng luật của nó, ai không biết hay cố tình không hiểu thì sẽ phải chịu tác động của luật, ví như một cái máy đang chạy mà một người cứ cho tay vào thì sẽ bị máy nghiền đứt, cho dù có kêu van xin xỏ cũng không được.

Trong các bài nói chuyện của mình, Thầy Huyền Diệu trụ trì chùa Việt Nam Phật quốc tự ở Ấn Độ ở Lâm Tỳ Ni Nepan, thường bảo rằng trong mấy điều cơ bản để bảo đảm cho con người được hạnh phúc, an lạc là phải tin sâu và hành động theo Nhân quả. Một người tin Nhân quả là một người có thể kết bạn được và trong quan hệ làm ăn không bao giờ sợ người ta phản mình.

Trong các mục tiêu giáo dục của Thái Lan, một nước mà đạo Phật là quốc giáo đến hơn 90% dân số theo đạo Phật, có một mục tiêu nhấn mạnh rằng là người được giáo dục (an educated person) học sinh phải hiểu được nhân quả và hành động theo Luật nhân quả.

Trong Kinh Pháp cú (câu 127), Đức Phật đã nói rõ “không nơi nào trên đời này dù trên trời, dưới biển, hay trong hang đá mà người làm điều ác có thể tránh được hậu quả của hành động bất thiện”.

Để hiểu rõ về Nhân quả - Nghiệp báo chúng ta hãy đọc bài “Nghiệp báo và những bài học về Nghiệp báo” sau đây của Hoà Thượng Uthitila (Hòa thượng là người Miến Điện và bài viết về nhân quả nghiệp báo này đã được đưa vào tuyển tập “Những viên ngọc quý của trí tuệ Phật giáo”).

Nghiệp báo và những bài học về nghiệp báo

Nghiệp, tiếng Pàli gọi là Kamma, tiếng Sanskrit gọi là Karma, là những hành động của thân, khẩu, ý. Mọi hành động đều đưa đến các hậu quả hay kết quả nào đó Do vậy chúng ta có thể nói về nghiệp như là quy luật về “Nguyên nhân và kết quả” hay nói vắn tắt là “Nhân - Quả”. Ví dụ, ném đá là một hành động. Hòn đá đó đập vào cửa kính và làm nó vỡ ra. Kính bị vỡ là kết quả của hành động ném, song nó chưa kết thúc. Bây giờ cái cửa sổ bị vỡ nó là nguyên nhân của những phiền toái khác. Ai đó sẽ bị mất tiền để đi thay nó và do vậy người ta sẽ không thể để dành tiền hoặc để mua những thứ khác cho một mục đích khác và hậu quả của việc này là cảm giác thất vọng. Điều này có thể khiến người ta cảm thấy khó chịu và nếu không cẩn thận thì sự khó chịu, bực dọc của người đó có thể lại là nguyên nhân của những việc làm sai trái nào đó... Không có sự kết thúc cho kết quả của hành động, do vậy chúng ta phải hết sức cẩn thận về những hành động của chúng ta để có được những kết quả tốt.

Mọi thứ đến với chúng ta đều là đúng cả, khi điều gì đó dễ chịu đến với chúng ta và làm chúng ta hạnh phúc chúng ta có thể chắc chắn rằng nghiệp của chúng ta đã tới hay đã báo để chỉ cho ta thấy rằng những điều chúng ta đã làm là đúng. Khi một điều khó chịu nào đó đến với chúng ta và làm chúng ta đau lòng hay bất hạnh, nghiệp của chúng ta đã tới để chỉ cho ta thấy lỗi lầm của chúng ta. Chúng ta không bao giờ được quên rằng, nghiệp báo luôn là công bằng. Nó không yêu cũng không ghét, không thưởng cũng không phạt. Nó không bao giờ cáu giận cũng không vui mừng. Nó chỉ đơn giản là Luật Nhân - Quả.

Nghiệp báo không biết gì về chúng ta. Liệu lửa có biết gì về chúng ta không khi nó thiêu cháy chúng ta? Không, đó là bản chất của lửa - đốt cháy và mang lại nhiệt. Nếu chúng ta sử dụng nó một cách đúng đắn, nó sẽ mang lại ánh sáng, nấu chín thức ăn cho chúng ta, hay đốt cháy những gì chúng ta muốn huỷ bỏ. Song nếu sử dụng sai thì nó sẽ đốt cháy chúng ta và tài sản của chúng ta.

Chúng ta càng hiểu về Luật Nghiệp báo, chúng ta càng thấy rằng chúng ta phải rất cẩn thận về những hành động, lời nói và ý nghĩ của mình, và chúng ta phải có trách nhiệm thế nào đối với những người xung quanh mình. Sống dưới ánh sáng của sự hiểu biết này, chúng ta học được một số bài học về học thuyết về Nghiệp báo.

1. Sự kiên nhẫn: Không có một sự tổn hại nào có thể đến với chúng ta, nếu chúng ta hành động theo luật, chính nó sẽ ban phúc cho chúng ta vào đúng lúc, chúng ta sẽ học được bài học lớn về lòng kiên nhẫn và sẽ không nôn nóng, kích động bởi chính nó làm trở ngại cho sự tiến bộ.

Trong đau khổ chúng ta biết rằng chúng ta đang phải trả một món nợ, và nếu khôn ngoan sáng suốt chúng ta sẽ biết không tạo thêm đau khổ nữa. Trong vui sướng, chúng ta biết được rằng chúng ta đang được hưởng kết quả của một hành động tốt và nếu sáng suốt chúng ta biết rằng chúng ta còn phải cố gắng để tốt hơn nữa. Sự kiên nhẫn mang lại an lạc, thành công, hạnh phúc và an ổn.

2. Sự tin tưởng: Chúng ta thực sự an tâm khi chúng ta thực sự hiểu biết về Luật Nhân quả và chẳng có gì phải sợ hãi trên hoàn cầu rộng lớn này ngoại trừ những hành động sai trái của chúng ta. Luật này đã làm cho con người biết đứng trên đôi chân của mình và khơi dậy lòng tự tin. Sự tin tưởng đã làm cho chúng ta thêm an lạc và hạnh phúc, nó làm chúng ta thoải mái và can đảm, bất cứ nơi nào chúng ta đi, Luật Nhân - Quả Nghiệp báo là người Bảo trợ của chúng ta.

3. Sự tực lực cánh sinh: Quá khứ đã tạo ra con người chúng ta trong hiện tại, nên cái mà chúng ta làm bây giờ sẽ quyết định số phận của chúng ta trong tương lai. Cần phải có sự nỗ lực tự thân, và loại bỏ cái khuynh hướng cầu viện đến sự giúp đỡ từ bên ngoài mà thực ra chẳng có tác dụng nào hết. “Tịnh và bất tịnh là do bản thân mình, không ai có thể làm thanh tịnh người”. Đức Phật đã nói như vậy.

4. Sự kiềm chế: Lẽ tự nhiên là nếu chúng ta nhận thấy rằng những điều xấu chúng ta làm sẽ chống lại chúng ta, thì chúng ta sẽ phải rất cẩn thận. Sự hiểu biết về Nghiệp báo sẽ ngăn cản, không cho chúng ta làm những điều sai trái cho lợi ích của người khác cũng như của bản thân.

5. Sức mạnh: Nếu chúng ta biến học thuyết về Nghiệp báo thành một phần của đời sống thì chúng ta càng có thêm sức mạnh không những chỉ để hướng đạo cho tương lai của chính mình mà còn để giúp đồng bào của chúng ta hành đạo một cách hữu hiệu hơn. Thực hành nghiệp tốt, chúng ta vượt qua được điều xấu không có gì ngăn cản chúng ta đạt được mục tiêu của chúng ta là Niết bàn.

(Bản dịch từ Tiếng Anh “What Kamma is” sang Tiếng Việt của Đỗ Thị Bình).

Bàn luận:Như vậy, hiểu rõ và tin sâu vào nhân quả chúng ta phải rất cẩn thận và phải thấy sợ vì hành động không chỉ của thân (việc chúng ta làm) mà cả khẩu (lời chúng ta nói) và ý (ý nghĩa trong đầu) đã đưa đến cái hậu quả hay kết quả rồi. Và không có sự kết thúc cho kết quả của hành động cho nên chúng ta mới thấy rằng một việc làm bất cẩn dù lúc ban đầu tưởng như rất nhẹ nhàng mà hậu quả lại có thể vô cùng khốc liệt như phân tích về câu chuyện ném đá vào cửa kính. Vì vậy mới có chuyện xưa rằng có bà mẹ không muốn cho con làm quan vì sợ rằng nếu con không cẩn thận thì một chính sách ban ra hay một việc làm thiếu chín chắn của con sẽ gây hại cho bao người và người con sẽ phải chịu quả báo xấu. Có vô vàn những ví dụ về những câu chuyện nhân quả như vậy. Câu chuyện của một người đầy tội lỗi (Nhân vật trong Phật pháp nhiệm mầu - Đĩa VCD do Chùa Hoàng pháp thực hiện) sau đã biết quay đầu trở về với chân thiện nhờ Phật pháp soi rọi, đã luôn nhắc tới Nhân quả và biết sợ nhân quả để trở thành Phật tử Tịnh Long lương thiện như ngày nay cho chúng ta thấy rõ giá trị của Nhân quả - Nghiệp báo. Và chúng ta càng thấy sự cần thiết của việc giáo dục về Nhân quả - Nghiệp báo cho thanh thiếu niên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường để đem đến cho các em một tương lai tốt đẹp nhờ biết gieo trồng những nhân tốt.

Nguồn:Tạp chí Phật học
------------------------------------------
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-c ... p_bao.html

User avatar
long
Posts: 429
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Nói thêm về Nhân Quả

Postby long » Sun Jan 06, 2019 2:06 am

Nhân Quả về phương diện vật lý từ 4 quy luật : lượng đổi chất đổi, bảo toàn vật chất và năng lượng, phủ định của phủ định, mâu thuẫn giữa các mặt đối lập. Nhưng Nhân Quả Nhân Gian thì :
1. Thân mỗi người gồm : Thể (quá khứ) , Tâm ( hiện tại ), Thần ( tương lai ), từng giây phút sống đều hội vào cả Ba Thì đó, xuyên kiếp...

2. Cách của mỗi người đi vào Hành ( hoạt động ) Sinh ( cách sống ), Hỗ ( tương tác ) với Thiên địa Nhân, quán xuyến là Chính Đạo chỉ có Ba từ : Chân Thiện Mỹ… và Nhân Quả Nhân Gian.
Nhân Quả thiên về xây dựng Niềm Tin ! Nếu con người không tin vào Nhân Quả nữa thì Xã hội đã vô cùng tăm tối ! Để còn hy vọng vào sự công bằng tuyệt đối ở Luật Nhân Quả!

Luật nhân Quả vốn là chủ thuyết của Đạo Phật.
Thực ra căn cơ, hiện tượng của Luật này dễ dàng tìm được các Chứng nghiệm trong sự vật hiện tượng mang tính ‘vật lý’ diễn ra trong đời sống ngắn hạn của nó với các yếu tố tự thân và với môi trường bên ngoài. Ví dụ

‘trồng cây chăm chỉ tất có ngày hái quả’ / ‘oan oan tương báo, oán oán tương phùng’/ ‘Ác giả ác báo’ / Phá rừng thì lũ lụt hoành hành bất thường…. Còn luôn là một nghi vấn trong dài hạn của đời người, đặc biệt là hành vi của từng người lại gắn với hệ thống xã hội mà họ đã góp phần tạo ra, trong đó sự vụ lợi nhờ hệ thống đó là không công bằng ( ví dụ sao tham nhũng nhiều đến thế, tội ác cao như núi mà vẫn được vinh thân phì gia nhiều đời, được chết êm ái đến như vậy. Trong khi có bao nhiêu người hiền lương lại thiệt thòi, đau khổ đến như thế….. ). Chính vì thế mà Đạo Phật giải thích bằng khái niệm ‘xuyên kiếp’ ngụ ý rằng Quả có thể là rất nhiều đời sau mới chứng nghiệm…
Nhưng Luật Nhân Quả được khẳng định ở hiệu ứng sau :

- Những gì đã xảy ra luôn còn dấu vết để lại. Những gì sẽ xảy ra luôn có dấu hiệu trước về nó
Điều đó được Huy Minh ( tác giả của luận thuyết ‘ nhờ tin học có thể lý giải được Thế giới’ – tôi tạm gọi như vậy ) viết rất chí lý rằng : Điều quan trọng nhất là hiệu ứng trên chỉ được ghi lại trong dòng thông tin-thời gian của Sự vật - hiện tượng (SVHT), có hay không ? Ai ghi ?

Tôi cho rằng, bản thân SVHT theo cách hoạt động của nó, tự ‘thải loại’ ra môi trường chung, ảnh hưởng vào SVHT khác mà làm nên ‘sự ghi nhận lại được’ của hiệu ứng nói trên về chính những gì của SVHT đó đã từng diễn ra, rồi đến một ngày nào có sự cộng hưởng của 4 Quy luật vật lý tôi nêu trên, mà tác động ngược lại SVHT đó, gây ảnh hưởng đến nó…gọi là ‘Nhân Quả’ vậy.

‘Nhân Quả’ theo 4 quy luật vật lý là dễ nhận thấy. Ví dụ với việc trồng Lúa như thế nào , thì ‘Nhân Quả’ nhận thấy trong 3 tháng . Ta đấm vào tường cứng, ngay lập tức thấy Nhân quả làm tay đau liền, bằng chính lực ta đấm!

Nhưng có nhiều kẻ trồng Lúa lười lại được ăn nó hơn người làm chăm, thì Nhân Quả thế nào ? Đấm rất mạnh vào bị bông thì tay ta như không thấy đau, rồi bị bông đó phình trở lại , cũng dường như chả có dấu vết gì, tổn hại gì bởi bị đấm ( như chẳng thấy Nhân Quả gì hết , mãi chưa thấy là sao? )…

Sở dĩ như thế là do việc ‘pha loãng’ hành vi của SVHT này vào môi trường chung và vào SVHT khác xảy ra ở mức độ như thế nào... Kẻ trồng Lúa lười biếng nhưng hành vi ấy bị pha loãng vào muôn điều lao động xấu khác của kẻ khác! Tội lỗi của một quan tham ác bá ( đã không bị trừng phạt lại khiến đời con cháu vẫn được hưởng lợi ) bởi bị pha loãng vào cách quản lý xã hội chung ( ai cũng có một tí can dự…) thì ‘Nhân Quả’ về phương diện xã hội là rất khó nhận thấy

Chưa hết. Một chiếc ô tô đi trước phụt khó bẩn tưởi ( Nhân ) , làm những xe, dòng người đi sau phải nhận lấy độc hại ( Quả ) , trong khi Nó đã vù đi xa về phía trước hưởng không khí trong lành tươi mát...

Thế nên để Nhân Quả là xác thực thì còn cần một cơ chế nữa là ‘ Cách định vị SVHT như đúng là Nó, như Nó đã gây ra, và đòi Nó phải trả giá’ . Nghĩa là quá trình ghi chép, sao bản thông tin như Huy Minh nói có thể bị sai lạc, bị virus phá hủy… Khoa học quản lý gọi là ‘minh bạch, giải trình, đối chứng, quy trách nhiệm pháp lý’…. để xác định đúng mức độ Nhân của từng SVHT dựa trên Quả nó đã gây ra cho Xã hội, lan nhiễm, pha loãng vào môi trường…đồng thời làm rõ tính mục tiêu của hành vi…( trồng lúa để làm gì, tại sao lại đấm, tham nhũng phá hoạt những mục tiêu chung như thế nào….). Bởi vậy Nhân Quả về mặt xã hội có hy vọng được chứng nghiệm ở xã hội để cao pháp luật nghiêm minh và văn minh. Nên pháp luật không ra gì là thất vọng lớn cho Nhân Tâm Xã tắc. ( Đây chính là mục tiêu xã hội của bài viết này )

Tôi mong được anh Huy Minh kiến giải tiếp bằng luận thuyết tuyệt vời của anh !

Cùng với Hiệu ứng nói trên, với đời sống của từng người thì các biểu hiện, việc làm, hành vi từ Quá khứ, Hiện tại và Tương lai luôn hội lại trong từng lát cắt thời gian trong dòng đời sống của họ…đi tiếp…xuyên kiếp…nên tôi có bài thơ :


Luật Nhân Quả trong Nhân Gian

Với bọn tham quan ác bá:
Sống liều bất chấp Đạo Trời
Mất mình vì cố hơn người bon chen
Được nhiều mà cứ giành thêm
Đắm vào oán nghiệt triền miên hại đời
Tạo ra trăm sự rối bời
Sau này muôn kiếp tả tơi đọa đày
Cho dù tránh được hôm nay
Trốn sao cho được lưới dày Nhân Gian
Với người dân Hiền lương:
Tu Tâm, luyện Thể, hoạt Thần
Trí Minh sáng láng trong ngần Vị Lai
Huệ năng qua vạn đúng sai
Chân hành, sinh Thiện, Mỹ đài tọa Sen
Nhân Lành Quả Ngọt báo đền
Lập nên công tích, Thánh Hiền vô vi…
--------------------------------------------------------------
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-c ... n-qua.html

User avatar
long
Posts: 429
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

Nhân Tâm , Nhân Trí , Nhân Cảm… và Nhân Quả

Postby long » Sun Jan 06, 2019 12:42 pm

Ở những loạt bài trước tôi đã viết : Nhân Quả trong thế giới tự nhiên rất dễ nhận ra bởi SVHT chịu sự chi phối của các Quy luật Vật lý. Cũng thế với thế giới Sinh vật, chúng sống thuận đúng theo quy luật sinh tồn ( sinh sản, kiếm ăn, di cư…) tạo nên chu kỳ sinh tôn và tiến hóa của Loài. Trong bài này tôi viết tiếp Nhân Quả đời người


Nhân Quả là diễn tiến tất yếu của sự vật hiện tượng ( SVHT ) trong chu kỳ sống và tồn tại với những điều đã tạo ra của chính Nó, tương tác với SVHT khác và môi trường bên ngoài

Nhân Quả là quy luật bởi ( hai định đề ) :

Không có gì tự nhiên sinh ra và tự nhiên mất đi, mà chuyển hóa theo dòng thời gian ( trong nó và ngoài Nó ) từ dạng này sang dạng khác, nghiệm lại vào chính Nó
Mọi điều đã gây ra/ xảy ra/ tạo ra luôn để lại dấu vết. Mọi điều sẽ xảy ra luôn có dấu hiệu bởi sự biến đổi lượng --> chất. Nhận thấy được trong và ngoài SVHT

Chu kỳ Nhân Quả là khoảng thời gian ( do thay đổi trong và ngoài SVHT cùng quá trình sống, vận động của Nó hướng theo một mưu cầu, với một phương cách nhất định ) : từ khi bắt đầu sinh sự, tham gia, nhận thấy, chịu ảnh hưởng , và đến sự tích lũy về lượng xác định, SVHT sẽ nhận lại một kết cục ‘chất đổi’ để chuyển SVHT sang giai đoạn sau với diễn tiến mới, với Nó…


Một Robot ( chứa trong nó trí tuệ được cài đặt ) bóp cò súng bắn người, không có Nhân Quả với Nó, vì Nó phản ứng trên cơ sở ‘logic thuật toán’ nhưng con người khi làm thế ( dù trong một trận chiến chính nghĩa ) cũng mang nặng Nhân quả …Vì Con Người có Nhân Tâm !

Con Tinh Tinh ( loài Linh trưởng cấp cao ), phản ứng với lẽ thuần sinh tồn. Sau khi nó chết đi, trở về cát bụi đúng nghĩa, không mảy may ý thức về ‘kiếp trước sau’ của nó. Nhưng con người có Nhân Trí: lại nghĩ khác : có thể ‘Con nào đó’ là kiếp sau hay trước của chính mình!

Cả Robot tuyệt hảo và Tinh Tinh cũng có thể có ‘tính cảm’ của Nó ( về những dấu vết và dấu hiệu…của môi trường thôi), nhưng không đạt đến mức ‘Nhân cảm’ như Con Người về chính Mình ( gắn với suy tư về dòng quá khứ, hiện tại, tương lai : Ta từ đâu, Ta là ai, sau này Ta là gì ???)

Những Nơ ron (N) thần kinh thượng thặng của Con người vốn dĩ có 5 chức năng ( ghi nhớ + phản ứng + kết nối + truyền tin + hoạt hóa ). Nhưng hàng tỉ Nơ ron như thế chứa trong 2 bán cầu đại não với những không gian giữa chúng…dường như chứa thêm ( hay tạo được thêm ) một ‘thứ gì khác’ có chức năng ‘phi vật chất, phi vật lý’ ? Tôi tạm mô tả công thức hóa 5 đặc tính ‘về những điều như thế’:

- (N) + 1 = (N’)
- (N) + ( SVHT ) = @ [N / SVHT )]
- (N) --> ( 1+2 ) = f(N) [(1+2)]
- (N) +(N) = m(N)
- (N) + th.gian = (n…)


Có lẽ đó là ‘cách phản ứng’ của khối hàng tỉ Nơ Ron thần kinh với 5 đặc tính trên mà thôi. Ví dụ : trong nhà gương, người ta xếp rất nhiều tấm gương ( ví như từng Nơ ron ) kích cỡ khác nhau ở các góc độ khác nhau….với các nguồn sáng màu sắc đa dạng, thêm nữa là hệ thống các loa âm thanh phức hợp. Thêm vào các đường ống ngầm hút gió bụi từ môi trường bên ngoài…..Một người đi vào đó, thấy Mình ra muôn hình vạn trạng ảo ảnh, lối ra lối vào lẫn lộn, rối trí, tạm mất ý thức về thời gian không gian…. Nếu không phải là trò chơi, chỉ có chính mình…kéo dài….trong tình trạng đó, chẳng ai cười đùa nổi đâu !!! Như vậy : một khối lớn, với sắp đặt như thế gây nên những hiệu ứng 'khác thường’ mà một vài tấm gương là không thể tạo ra… Và tấm gương vẫn phản ứng kiểu vật lý mà thôi, trong khi Nơ ron thần kinh phản ứng bởi cả ‘Cảm xúc / Tâm lý’ của con người ( không theo logic vật lý )..trong sự tương tác với SVHT khác, và bên ngoài rất phức tạp….


Cho nên, hiệu ứng kiểu như thế, dẫn đến những điều mà Con Người sáng tạo nên để gắn Mình với Luật Nhân Quả:

- Thần Thánh / Ma Quỷ ( với các lực lượng siêu nhiên Thiên Địa )
- Linh hồn / siêu thoát ( với sự biến thể, luân hồi của chính mình )
- Hiện tượng kỳ dị / biểu hiện siêu hình…( ám thị tâm lý tinh thần với những sự việc )
- …………………..


Có thể nói : Đạo Phật để cập đến Tham / Sân / Si…là Nhân Quả xấu chính yếu, xuyên suốt đời người, và khuyên mỗi người nên chế ngự, loại bỏ nó…nhưng kỳ cục thay : chính cách hiểu Nhân Quả sai lệch lại gia tăng tính Tham / Sân / Si trong rất nhiều lớp người… ( chẳng hạn tìm cách lý giải mình được luân hồi sang kiếp sau sướng hơn, quyền cao chức trọng hơn….biến tướng nữa là đốt vàng mã những của nả cho người đã chết vì nghĩ họ có kiếp sau….rồi nghĩ ra những hình phạt ghê rợn cho người xấu….nơi Địa ngục…)


Cho nên cần hiểu : Nhân Quả đời người thể hiện ở những điều sau ( rất thực về mặt xã hội, không tránh được, nên gọi là quy luật cũng được – vì đúng cả với hai định đề nêu trên ) :

- Phải Trả giá ( bởi chính Tham Sân Si của những người khác ‘chiến lại’ quyết liệt và tận cùng khi họ đã bị Tham Sân Si của mình xâm hại ) --> giải được là Thanh thoát

- Bị Bất an ( với những điều đã làm phá quy tắc, cố nghịch với quy luật… Những dấu vết không thể xóa, những dấu hiệu không thể đoán, nên bất trắc… ) --> giải được là An Lành

- Tự Mâu thuẫn ( với người khác và trong bản thể, với môi trường…do đã tích nhiều sai lầm.. nên mọi sự nó không hanh thông, dồn thành cục u ác tính nội tại ) --> giải được là Vô vi

- Gây Di căn ( sang chuyện khác, vào người thân, ám kẻ trực hệ … đã chịu / đã nhiễm / đã cùng / đã hưởng…một cách trực tiếp, thường xuyên nhất…) --> giải được là Thiện sinh

- Truyền Hậu thế ( tính ‘nhân bản’ của chính Mình, về tinh thần, giá trị sống, ai cũng phải nghĩ đến…trong đó sợ nhất là sự ‘khai quật’ , nguyền rủa của đời sau ) --> giải được là Tuệ Lai

Quay trở lại ví dụ ‘Nhà Gương’ ( ví như Đầu Não của một người cụ thể ) nói trên. Trong sự lộn xộn đó có cài đặt những tấm ảnh màu, video Clip… đa dạng quay chụp quá khứ của người đó ( về hành vi – chính là Nhân ), thì Quả chính là những hoang mê, liên tưởng kinh rợn, với Ba Khái Niêm nêu trên – ám muội ‘Thế giới Nhân tâm / Nhân Trí / Nhân Cảm’ của chính mình : họ bị vấp ngã, tù đày trong đó…chả ai vào mà cứu được…chính bản thân phải chịu…là vì thế…


Còn về Chu kỳ Nhân quả đời người để thực chứng nghiệm được Nhân Quả như thế…trong cuộc sống của mình, là 30 năm…( kể từ khi mỗi người bắt đầu sinh sự, tham gia, nhận thấy, chịu ảnh hưởng , và đến sự tích lũy về lượng xác định…để điều đó quyết định toàn bộ đời sống còn lại của họ ( sau tuổi ‘TRI THIÊN MỆNH’ 49-53 )…SỐNG MÀ NHỚ LẤY !

------------------------------------------------------------------------------
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-c ... n-qua.html

User avatar
long
Posts: 429
Joined: Thu Nov 15, 2018 8:05 am
Contact:

“CHA ĐẺ” THUỐC KHÁNG SINH PÉNICILLINE TRẢI NGHIỆM NHÂN QUẢ BÁO ỨNG

Postby long » Sat Feb 09, 2019 5:09 am

Đây là câu chuyện thực về nhân quả báo ứng ngay trong một đời, gắn với cuộc đời và sự nghiệp kiệt xuất của hai danh nhân thế giới: Bác sĩ Alexander Fleming - “cha đẻ” thuốc kháng sinh Pénicilline và Winston Churchill - vị thủ tướng trứ danh của nước Anh.

“Hành thiện nhất định sẽ gặp thiện báo. Tất cả những gì ta cho ra đều sẽ được nhận lại. Bạn đừng lo sẽ mất đi, những gì bạn đã cho, tặng cho người khác bằng cả trái tim thì nhất định sẽ không mất”.

Bác sĩ Fleming và Thủ tướng Anh – Churchill: Hai cuộc đời, một đạo lý
Chuyện kể về bác sĩ Alexander Fleming, người tìm ra nấm để chiết xuất thành công kháng sinh Pénicilline cho nhân loại năm 1927 và vĩ nhân Winston Churchill - thủ tướng Anh Quốc trong thập niên 50, 60 của thế kỷ trước

Câu chuyện bắt đầu từ một người nông dân nghèo tên Fleming ở Scotland.

Một ngày nọ ông đang làm việc để nuôi gia đình thì bỗng nghe tiếng kêu cứu từ cái đầm lầy gần đó. Ông vội chạy đến nơi thì nhìn thấy một cậu bé bị sa lầy trong ao, sình ngập đến đầu. Cậu đang giãy giụa gào khóc.

Người nông dân liền lập tức cứu cậu bé lên bờ.

Hôm sau, một cỗ xe sang trọng đi tới căn lều của Fleming. Một quý ông ăn mặc sang trọng bước ra, tự giới thiệu mình là Randolph Henry Spencer Churchill, cha của cậu bé mà được ông cứu sống ngày hôm qua. Ông ta nói:

– Tôi đến để cảm ơn và hậu tạ anh đã cứu mạng con trai tôi!

Ông Fleming đáp:

– Không có chi. Đây là chuyện nên làm và ông không cần phải hậu tạ, thưởng công. Tôi quyết không nhận đâu.


Ngay lúc đó, cậu con trai khoảng 10 tuổi của Fleming bước vào lều. Ông nhà giàu hỏi:

– Đây là con trai anh phải không?

– Vâng - Ông Fleming trả lời đầy vẻ tự hào.

Nhà quý tộc ân cần hỏi cậu bé:

– Khi lớn lên, cháu muốn làm gì?

Cậu bé nhỏ nhẹ thưa:

– Thưa ông, chắc cháu sẽ tiếp tục nghề làm ruộng của cha cháu.

Nhà quý tộc lại gặng hỏi:

– Thế cháu không còn ước mơ nào lớn hơn nữa sao?

Cậu bé im lặng cúi đầu một lúc rồi mới trả lời:

– Dạ thưa bác, nhà cháu nghèo thế này thì cháu còn biết ước mơ điều gì nữa đây?

Lại tiếp tục một câu hỏi chân tình:

– Nhưng bác muốn biết, nếu cháu được phép mơ ước thì cháu sẽ ước mơ điều gì?

Và lần này cũng lại là một câu trả lời thật thà:

– Thưa bác, cháu muốn được đi học, cháu muốn trở thành một bác sĩ!

– Vậy thì cho phép tôi đề nghị như thế này anh Fleming, hãy để tôi chu cấp việc học cho con trai anh hệt như tôi đã lo cho con trai mình. Nếu con trai anh mà giống tính cha nó thì tôi tin rằng ngày sau này cậu ấy sẽ trở thành một người mà cả hai chúng ta đều hãnh diện.

Ông Fleming nhà nghèo nghe vậy thì đồng ý. Thế là từ đó cậu con trai của Fleming được theo học tại những trường danh tiếng và tốt nghiệp đại học Y khoa Stainte-Marie ở London.

Nhờ có hoài bão lớn lao, không ngừng phấn đấu, cuối cùng tài năng của cậu cũng được cả thế giới công nhận. Cậu chính là bác sĩ lừng danh Alexander Fleming.


Vào năm 1927, bác sĩ Alexander Fleming đã chế ra thuốc kháng sinh Pénicilline cứu mạng được không biết bao nhiêu người trên thế giới. Năm 1945 ông được trao giải Nobel về y học.

Vài năm sau, người con trai của quý ông được cứu sống khỏi đầm lầy ngày xưa bị bệnh viêm phổi. May nhờ chính thuốc Pénicilline này đã cứu cậu thoát chết. Tên cậu chính là Winston Churchill, sau này cậu trở thành một vĩ nhân, là người mà cả nước Anh đều tự hào và hãnh diện. Đó chính là thủ tướng trứ danh của nước Anh – Winston Churchill.

Điều thú vị là ngài Winston Churchill và bác sĩ tài danh Alexander Fleming là đôi bạn rất thân của nhau trong suốt cuộc đời.

Bác sĩ Alexander Fleming mất năm 1955 tại London ở tuổi 74 và thủ tướng Winston Churchill mất năm 1965 ở tuổi 91 tại London. Cả hai ông đều yên nghỉ trong cùng một nghĩa trang.

Điều này chứng minh rằng:

Nhân quả báo ứng không sai, làm thiện mà không cần báo đáp. Nhân duyên đầy đủ, phước báo cũng hiện tiền dù không muốn cũng không được.


Bạn làm việc ác, tuy hiện tại duyên chưa chín muồi. Khi phúc báo bạn suy kém rồi thì ác báo hiện tiền, nỗi đau khổ ập đến bạn sẽ không có cách gì hóa giải. Xin hãy suy ngẫm cho kỹ mà trong cuộc sống tích đức tu thiện (miệng nói lời thiện, thân làm việc thiện, ý nghĩ thiện lành), tin sâu nhân quả, bồi phúc cho gia đình con cái được bình an, hạnh phúc. Vì đức hạnh và lòng tốt của bạn sẽ tạo ra thiên đường cho chính bạn và những người xung quanh…

Xin hãy gửi câu chuyện này đến tất cả bạn bè của bạn! Mong rằng cuộc sống của tất cả chúng ta đều tươi sáng, tốt đẹp hơn. Hãy mở rộng tấm lòng, tích đức tu thiện hầu cải tạo vận mệnh cho chính mình!

(Phổ Hiền tổng hợp)


-----------------------------------
http://www.songhanhphuc.net/tin-tuc/cha ... ua-bao-ung


Return to “BUDDHISM-PHẬT GIÁO”